sgtt.vn, 26.05.2013  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 28.07.2012, 06:55 (GMT+7)

Mở cửa đầu tư nước ngoài để hiện đại hoá ngành khai thác hải sản

SGTT.VN - Nếu nhìn vào các yếu tố chính giúp đánh giá trình độ của ngành khai thác hải sản một quốc gia như năng lực và trình độ đánh bắt, hệ thống cơ sở hậu cần nghề cá, năng lực quản lý nghề cá… thì có thể nói rằng quốc gia biển Việt Nam không chỉ lạc hậu so với các nước phát triển, mà còn so với nhiều nước trong khu vực. Nguyên nhân bao trùm, tác động lớn đến bức tranh thực tế này là sự yếu kém trong khâu tổ chức, bắt đầu từ tổ chức quản lý, bao gồm quản lý nhà nước lẫn cộng đồng. Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên thứ trưởng bộ Thuỷ sản (cũ), trao đổi với phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị.

Đội tàu đánh cá của các ngư dân Việt Nam khá thô sơ.

Thưa bà, có ý kiến cho rằng gần đây, khi những căng thẳng trên Biển Đông, Trường Sa – Hoàng Sa nóng lên theo sự leo thang của Trung Quốc, thì không chỉ ngư dân – những công dân đang thực thi chủ quyền thực tế trên biển cùng sự mưu sinh của họ – mà cả ngành khai thác hải sản cũng mới bắt đầu được quan tâm sâu sắc. Trong khi đó, từ hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X, nghị quyết về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển đã được thông qua. Ta cũng đã có cả chiến lược quốc gia về phát triển khai thác xa bờ. Là người trực tiếp gắn bó với con cá, con tôm lâu năm, bà bình luận như thế nào về việc này?

Đúng là chúng ta đã có quan tâm đến kinh tế biển nói chung, trong đó có ngành khai thác hải sản nói riêng, nhưng đa số mới chỉ trên giấy mà thật ra, nhìn vào đó cũng còn nhiều điều chưa rõ. Ví dụ, chiến lược phát triển khai thác xa bờ đặt mục tiêu cho nghề cá như thế nào, đối với các tỉnh ven biển ra sao? Tuy đã phê duyệt rồi nhưng cần phải xem lại những vấn đề này. Rộng ra, muốn phát triển kinh tế biển thì ngoài chuyện mục tiêu phải đưa ra giải pháp cụ thể, thực tế. Nếu không gắn với câu chuyện chủ quyền, thì với tư cách là một ngành kinh tế quan trọng, cũng phải giải quyết bài toán này.

Tổng cục Thuỷ sản thuộc bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang tổ chức lấy ý kiến xây dựng đề án tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản. Theo bà, “tổ chức lại” nên bắt đầu từ đâu?

Từ khâu rộng hơn là quản lý. Bắt đầu từ quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước hiện nay không có cơ sở thực tiễn nào để hiệu quả cả. Sau khi bộ Thuỷ sản bị giải tán, cơ quan quản lý nhà nước về thuỷ sản là tổng cục Thuỷ sản thuộc bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tổng cục này có cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, nhưng cục lại không có mạng lưới dưới địa phương. Mới đây, tôi nghe nói có chủ trương sẽ thành lập chi cục bảo vệ thuỷ sản tại các tỉnh ven biển. Trong khi đó, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng có nhiều cục liên quan đến thuỷ sản, như cục Chăn nuôi, cục Thú y, cục Quản lý chất lượng… Sự không rõ ràng, chồng chéo còn thể hiện ở chỗ không phân định được đâu là cơ quan ban hành chính sách, đâu là đơn vị thực thi. Điều này một mặt khiến cho cơ quan quản lý cấp trên không nắm được tình hình khai thác, các con số thống kê liên quan, từ số lượng chất lượng tàu thuyền, đến trữ lượng, sản lượng cá – điều mà ở các nước người ta nắm cụ thể tới từng loại.

Mặt khác, khi ngư dân – doanh nghiệp chế biến hay làm dịch vụ liên quan gặp khó khăn, vướng mắc thì không rõ địa chỉ để kêu, có khi còn xung đột lợi ích vì cơ quan quản lý – cấp phép cũng có bộ phận làm dịch vụ tương tự. Nếu đã nhập hai bộ Thuỷ sản và Nông nghiệp lại với nhau thì chỉ cần lập cục Thuỷ sản, không cần lập tổng cục; không chỉ vì nguyên nhân nói trên mà thực tế hiện nay, tổng cục muốn ra chính sách gì cũng phải hỏi ý kiến các cục, vụ khác.

Nhà nước phải

tổ chức lại hệ thống quản lý trên biển để làm sao việc quản lý có hiệu lực, hiệu quả. Trái với ý kiến nhiều người, tôi cho rằng nên giảm bớt lực lượng, chỉ tập trung ngân sách đầu tư vào một vài lực lượng, đặc biệt là lực lượng có chức năng đảm bảo an ninh trên biển, để đảm bảo ngư dân an toàn, an tâm hành nghề, mưu sinh.

Trong các phát biểu, bài viết gần đây, bà đặc biệt nhấn mạnh đến kinh nghiệm của các nước có truyền thống khai thác hải sản về vai trò của các tổ chức cộng đồng – nghề nghiệp. Quản lý của cộng đồng cũng là một khâu quản lý?

Đúng vậy. Nhà nước có thể giao cho hiệp hội hoặc hội một số nhiệm vụ, vừa để giảm tải cho mình mà như vậy cũng vừa hiệu quả hơn, như thống kê tình hình sản lượng, phân loại. Các hội sẽ tổng hợp từ báo cáo của hội viên. Hội viên cũng phải đạt những tiêu chuẩn nhất định và phải tuân thủ những quyết định đã được đồng thuận trong nội bộ hội mình. Bản thân những tiêu chuẩn này có giá trị như những đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành nghề. Hiện nay ở các nước, để thực hiện mục tiêu chống bán phá giá hay giảm sản lượng để tăng giá, họ thường thông qua cơ chế hội chứ nếu không thì ai bảo ai nghe? Có nước, như Na Uy, còn bắt doanh nghiệp muốn xuất khẩu thì phải là thành viên của hội đồng Thuỷ sản nước này.

Tổ chức hội khác với hợp tác xã. Hợp tác xã chỉ kết nạp ngư dân, không kết nạp doanh nghiệp. Đừng nghĩ kinh tế tập thể chỉ là hợp tác xã. Tổ chức kinh tế hội không dựa vào việc có chung (góp) tài sản mà dựa vào những giá trị chung như thương hiệu, thứ mà trong tương lai có thể là tài sản chung. Các nghiệp đoàn nghề cá đã thành lập hiện nay chỉ mang tính chất phối hợp, hỗ trợ nhau nhưng phải trên nền tảng chung, ví dụ như kỹ thuật, thương mại… thì mới bền vững được.

Hiện ta có hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) tập hợp những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Ta có hội Nghề cá là một hội “thập cẩm”, tập hợp các quan chức về hưu, các sở, trung tâm khuyến ngư, một ít thành viên là người nuôi, chủ yếu là người nuôi tập thể. Hai hội này không hợp tác được với nhau. Hiện tôi còn nghe nói hội cá tra đồng bằng sông Cửu Long cũng sắp được thành lập trên cơ sở tách – nhập từ các nơi. Tôi nghĩ nên tập hợp lại thành hiệp hội các nghề cá Việt Nam, như hội cá ngừ, cá tra, tôm, nghêu…, VASEP là một uỷ viên của hiệp hội, xác định rõ tôn chỉ mục đích và hoạt động chuyên nghiệp hơn.

Nguồn lợi hải sản gần bờ đã cạn kiệt nên phải vươn ra đánh bắt xa bờ, đó cũng là con đường tất yếu nếu muốn giàu từ biển. Với một xuất phát điểm thấp như hiện nay, theo bà, đâu là giải pháp?

Công tác hậu cần cho nghề cá phát triển manh mún.

Xuất phát điểm của ta thấp toàn diện: tàu gỗ công suất thấp, ngư cụ đơn giản, phương tiện – cơ sở hậu cần bảo quản – chế biến lạc hậu, thiếu thông tin, kỹ thuật hỗ trợ để nắm bắt trữ lượng, luồng lạch trên biển, tập quán đánh bắt nhỏ lẻ...

Điều đầu tiên ngư dân cần, có thể thấy rất rõ, đó là vốn. Với chương trình cho vay đóng tàu đánh bắt xa bờ, vấn đề thu hồi vốn là rất quan trọng. Ngoài việc ngư dân thu lợi không đủ trả, hồi tôi còn làm ở công ty xuất nhập khẩu Minh Hải, còn có thực tế – kinh nghiệm là ngư dân trốn tránh nghĩa vụ của mình. Hồi đó, công ty nhập máy thuỷ cho ngư dân, họ phải trả bằng hải sản đánh bắt được nhưng khi có hải sản, họ lại đem bán cho người khác! Tuy vậy, hiện nay nếu biết cách tổ chức thì vẫn có thể thu hồi vốn được. Ở các nước, họ bắt buộc hải sản đánh bắt chỉ được bán ở cảng cá, chợ cá. Ta làm như vậy thì tình huống xấu nhất cũng có thể trừ nợ bằng cá.

Cùng với việc phát triển các tổ chức cộng đồng, tổ chức lại hạ tầng hậu cần đồng bộ theo hướng này còn giúp giải quyết nhiều vấn đề khác. Cảng cá, chợ cá là một “thành tựu” của nghề cá, có lợi cho ngư dân vì không bị chủ vựa ép giá nhờ có thông tin thị trường. Việc trợ giá xăng dầu cho ngư dân thời gian qua gặp nhiều trục trặc là do ta quản lý số tàu thuyền đi biển kém. Đài Loan người ta hỗ trợ giá xăng dầu qua hội nghề cá, tại cảng cá, nên không sợ bị đầu cơ.

Xây dựng cảng cá, chợ cá hay các cơ sở hạ tầng khác là trách nhiệm của Nhà nước, phải được quy hoạch, xây dựng phù hợp với công năng của nó. Còn khâu quản lý, khai thác có thể giao cho khu vực tư.

Đó là những đường đi nước bước bài bản nhưng sẽ tốn nhiều thời gian, nguồn lực. Trong khi đó, yêu cầu trước mắt là không thể không hiện đại hoá nghề cá. Vậy đâu là giải pháp đột phá?

Nếu Việt Nam muốn phát triển khai thác, tiến tới những vùng sâu vùng xa thì phải mở cửa cho đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức khác nhau. Dầu khí cho vào được thì sao khai thác cá không được? Các nước phát triển đã nghiên cứu, phát triển rất nhiều về tàu, ngư cụ, thiết bị kỹ thuật hỗ trợ… Trong lúc các viện nghiên cứu của mình chưa làm được điều này, chưa cung cấp cho ngư dân hình mẫu thì việc mở cửa sẽ giúp họ học hỏi công nghệ, kinh nghiệm. Trước đây, ta đã mở cửa cho Thái Lan vào khai thác nhưng do quản lý không nổi, cho một giấy phép thì họ nhân đôi, làm giả biển số… nên ta cấm luôn. Từ đó, dù danh mục cấm đầu tư không có cấm khai thác cá nhưng thực tế là không cho. Trong tình hình bất ổn trên biển như hiện nay, nên chọn những nhà đầu tư từ các nước có ngành đánh bắt thật phát triển, có vị thế chính trị – kinh tế lớn, ví dụ Nga, để không chỉ học hỏi mà còn đa dạng hoá thành phần lợi ích trên biển. Khi họ vào, tất nhiên ta sẽ có quy định quản lý, như treo cờ Việt Nam, có thiết bị định vị để theo dõi hoạt động.

Có một giải pháp kỹ thuật giúp cho việc quản lý trên biển mà các chuyên gia nước ngoài từng giới thiệu. Đó là căn cứ vào ảnh chụp vệ tinh, qua đặc điểm màu nước, có thể xác định được vùng nhiều thức ăn, tức vùng nhiều cá, phát tín hiệu cho ngư dân thông qua thiết bị trang bị trên tàu để họ đến đánh bắt. Cũng nhờ vậy mà phía các cơ quan quản lý sẽ biết được tàu nào đang ở đâu, làm gì, cả tàu nước ngoài được phép khai thác lẫn không được phép.

An ninh là nỗi lo lớn của ngư dân hiện nay khi ra biển, theo bà, Nhà nước cần làm gì để bảo vệ họ?

Không có bất kỳ lý do nào để có thể làm ngơ hoặc không có phản ứng thích hợp trong trường hợp này. Nhà nước phải tổ chức lại hệ thống quản lý trên biển để làm sao việc quản lý có hiệu lực, hiệu quả. Trái với ý kiến nhiều người, tôi cho rằng nên giảm bớt lực lượng, chỉ tập trung ngân sách đầu tư vào một vài lực lượng, đặc biệt là lực lượng có chức năng đảm bảo an ninh trên biển, để đảm bảo ngư dân an toàn, an tâm hành nghề mưu sinh. Mưu sinh là quyền của công dân. Trách nhiệm của Nhà nước là phải bảo vệ công dân – ngư dân. Tôi nói điều này xuất phát từ tình hình thực tế nguồn lực chúng ta yếu. Thời gian qua các tàu kiểm ngư của các tỉnh hầu như không hoạt động vì không có tiền đổ xăng. Mà có hoạt động cũng không đuổi nổi tàu Trung Quốc xâm phạm, do nhỏ hơn tàu của họ.

Nguyên Lê (thực hiện)

  
  
Đánh giá bài viết:  

Bài liên quan

ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ hoặc email
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
SGTT.VN - Khoảng 30ha đất của nhà máy đóng tàu Ba Son hay còn gọi là xí nghiệp liên hiệp Ba Son sẽ ra sao, khi trong tương lai nhà máy đóng tàu này dời về khu cảng mới Cái Mép – Thị Vải (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), theo chỉ đạo của Chính phủ? Đó là câu hỏi được không ít người quan tâm, bởi khu đất này hiện toạ lạc tại vị trí được xem là đẹp nhất nhì thành phố.

Xem thêm »

08:29 ngày 26.05.2013
SGTT.VN - Việc Bắc Kinh bác bỏ đề xuất đưa cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải ở Biển Đông ra giải quyết ở tòa án quốc tế khiến họ chẳng khác gì “một kẻ bắt nạt” trong cộng đồng quốc tế.