Chung sống hoà hiếu trên thế và lực mới
SGTT.VN - Thành công của ngoại giao Việt Nam trong thập kỷ “chiến quốc tranh hùng” tuỳ thuộc vào việc chủ động phát huy đến đâu quan hệ đối tác với Mỹ, với các nước trong/ngoài khu vực nhằm tạo thế và lực mới để đất nước có thể chung sống hoà hiếu/hữu nghị với Trung Quốc.
|
Ông Tạ Quang Bửu đang ký Hiệp định Genève vào ngày 21.7.1954. Ảnh: TL
|
Ngoại giao Việt Nam vừa kỷ niệm tròn 65 năm ngày ra đời và quá trình trưởng thành của mình. Trong những ngày này, ai đã từng gắn bó với công tác đối ngoại không thể không dấy lên một nỗi hoài niệm về cái thuở mà vị cha già dân tộc từng khắc hoạ những dòng đầy cảm xúc về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc: “Mối tình hữu nghị Việt – Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em”.
Bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia
Trong những năm 1945 – 1946, viết thư cho Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định mục tiêu của Việt Nam là “độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”, đồng thời cam kết sẽ làm hết sức mình để cho nền độc lập hoàn toàn và sự hợp tác toàn diện ấy trở nên có lợi cho cả thế giới.
Những bộ óc xuất chúng nhất của cách mạng Việt Nam từ những ngày đất nước còn trong thế đứng chông chênh đã tiên liệu được hình thể nan giải của địa – chính trị Việt Nam và đề ra chủ trương đối ngoại: “Làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Tư tưởng hoà bình của Bác toả sáng và xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, thế nhưng Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á vẫn phải chấp nhận ba cuộc chiến tranh lớn ngoài ý muốn.
Và sau mỗi cuộc chiến ấy là những sự kiện ngoại giao “chấn động địa cầu”: hiệp nghị Genève (1954), hiệp định Paris (1973) và thông cáo chung Việt – Trung (1991). Chiến tranh nhiều khi là định mệnh của lịch sử, nhưng hoà bình lại là xu thế tất yếu! 65 năm qua, ngoại giao luôn luôn để lại dấu ấn có ý nghĩa trong mọi cuộc chiến kiến tạo lên nền hoà bình gian lao đó! Và cái đích bất di bất dịch không thể thoả hiệp là phải bảo vệ đến cùng nền độc lập dân tộc và thống nhất của tổ quốc.
Chuyển sang kỷ nguyên Đổi mới, chủ trương “thêm bạn bớt thù” được nâng lên “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Chủ trương “độc lập, tự chủ và đa dạng hoá quan hệ quốc tế trở thành thực tiễn sinh động để thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đây chính là chìa khoá để mở cho đất nước một thế đứng mới, trong đó ngành ngoại giao với ba trụ cột: chính trị, kinh tế và văn hoá đã có những đóng góp xuất sắc!
Qua bao thăng trầm lịch sử, tình hữu nghị tốt đẹp và mong ước hợp tác chân thành với các cường quốc cũng phải chờ mãi tới 1995, năm được mùa bội thu của ngoại giao Việt Nam mới đâm hoa kết trái. Hoà bình đổi bằng xương máu của bao thế hệ đã vãn hồi, giang sơn thống nhất về một mối, nền độc lập khó nhọc nhưng đã xác định, các thiết chế dân chủ được dựng xây, và tổ quốc bắt đầu chuyển động theo hướng dân giàu nước mạnh!
Kết nối – hội nhập – cân bằng là cách hoá giải hiệu quả
Nhưng ngay cả khi toàn cầu hoá đã tăng tốc và hội nhập quốc tế ngày càng được đẩy tới, nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của nhiều nước, trong đó có Việt Nam vẫn phải đối mặt với những nguy cơ tiềm tàng và đa dạng, truyền thống và phi truyền thống, xuất phát từ tình hình quốc tế, khu vực và chính ngay từ quá trình phát triển nội tại. Cuộc cờ toàn cầu đang trên đà biến đổi, thế giới khẩn trương đi vào một cuộc cờ mới trên bàn cờ với những quân cờ được sắp xếp lại.
Thành công của ngoại giao Việt Nam trong thập kỷ “long tranh hổ đấu” tuỳ thuộc vào việc chủ động phát huy quan hệ đối tác với Mỹ cùng với các nước trong và ngoài khu vực nhằm tạo thế và lực mới để chung sống hoà hiếu/hữu nghị với Trung Quốc. Khi trật tự trong vùng thay đổi, muốn tránh rơi vào “cái bẫy tuyến đầu” của hai tiền đồn đối nghịch, nơi thanh toán mâu thuẫn giữa các cường quốc, Việt Nam cần có một chính sách kết nối, hội nhập và cân bằng động giữa các lực lượng.
Kết nối và hội nhập ngày càng sâu vào khu vực và toàn cầu là để khoả lấp sự khác biệt và khoảng cách biệt giữa Việt Nam với các thành viên của ASEAN và với các cường quốc khác có ý nghĩa quyết định đối với an ninh và phát triển của Việt Nam. Cân bằng động là một cách tiếp cận linh hoạt để tăng cường chất lượng các mối quan hệ đối tác hàng đầu. Việt Nam không bao giờ đi với nước này, chống lại nước kia, nhưng Việt Nam cũng không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để nâng cấp chất lượng với các quan hệ đối tác hàng đầu.
Một trong những định hướng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội mười năm tới là tiếp tục giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Ngoại giao là một bộ phận cấu thành trong toàn bộ phương lược này.
Sẽ có những rung chuyển xã hội lớn nhỏ khi chúng ta hội nhập ngày càng sâu với thế giới bên ngoài. Nhưng một dân tộc có bản lĩnh như dân tộc Việt Nam, từng không quản hy sinh xương máu cho độc lập và tự do, dân tộc đó sẽ không bao giờ nao núng trước những rung chuyển ấy, miễn là sau đó để đạt tới một nền độc lập vững chắc hơn cho tổ quốc, một nền kinh tế phồn vinh hơn cho dân tộc và một trình độ tự do cao hơn cho mỗi con người.
Trong thời đại ngày nay, chúng ta chỉ có thể tự khẳng định mình trong dòng chảy của hội nhập và phát triển, và chính sự hội nhập, hoà đồng với thế giới sẽ giúp cho chúng ta có thế và lực mới, ngẩng cao đầu, chung sống hoà bình với mọi đối tác!
TS Đinh Hoàng Thắng