Đắng cay nghề biển
Những ngày cuối tháng 7/2010, ngư dân vùng biển Quảng Ngãi bàng hoàng trước bão biển. Đến nay vẫn còn 13 ngư dân nằm lại với biển chưa về. Thế nhưng, đó chỉ là một trong những đắng cay của nghề biển. Bởi lâu nay, ngư dân cả nước, mà nhất là ngư dân Quảng Ngãi đã đối diện với biết bao nhiêu trở ngại lúc vươn ra khơi xa. Đó là nguồn thuỷ hải sản trên biển mỗi ngày một vơi dần; âu lo phập phồng trước nạn bị tàu nước ngoài bắt giữ, chiếm doạt tài sản. Và, còn biết bao rủi ro, nguy hiểm khác chất chồng, làm cho đời sống ngư dân thêm lắm nỗi nhọc nhằn...
Bài 1: Đằng sau những con tàu gặp nạn
SGTT.VN - Ngày ra khơi, bao thuyền viên, thuyền trưởng đều vui sướng trên chuyến hải trình xa thẳm, với mong ước thuyền ghe đầy tôm, cá trở về. Nhưng mấy ai ngờ những rủi ro trước mặt, biển trở thành nỗi ám ảnh khôn cùng. Và rồi, còn có biết bao thân phận là vợ, là mẹ cứ chiều chiều ra biển trông chờ trong niềm tiếc nuối vô vọng...
Những ngày trong bão Cônsơn, sống cùng bà con làng Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), tôi mới hay, sự đau thương do biển mang lại cho làng này không chỉ lần này. Suốt bao năm qua, năm nào làng biển này cũng có nước mắt của người thân khóc chồng, con nằm lại cùng biển dữ.
|
Tàu thuyền ngư dân xã Bình Châu tại cửa Sa Kỳ - xã Bình Châu.
|
Làng... "tử nạn"
Xóm Gành Cả, làng Châu Thuận Biển nổi tiếng với "nhiều cái nhất". Trong đó, để đời nhất vẫn là nghề lặn. Nghề này cũng đem lại cho ngư dân sự giàu có. Minh chứng là những mái nhà mái bằng lấp lánh trước cửa biển, rạng ngời trong mỗi buổi bình minh. Thế nhưng, một cái nhất nữa mà hiếm người biết đến: đó là làng biển có nhiều người tử nạn khi đi biển. Nếu có ai làm thống kê, có lẽ không nơi nào có số người chết "lai rai" khi đi biển nhiều như ở đây.
Chưa kể cơn bão Conson, thì từ năm 2006 - 2009, làng này có 23 người nằm lại với biển khơi. Cô cán bộ văn phòng UBND xã Bình Châu khẳng định, phần lớn người tử nạn đều hành nghề lặn trên các quần đảo Hoàng Sa. Còn lại là do lốc xoáy bất ngờ đánh rơi xuống biển; bị sét đánh trên biển; tàu gặp bão bị chìm...
Ông Bùi Luôn (khoảng trên 50 tuổi), kể cho tôi nghe trường hợp gặp nạn của con ông là Bùi Văn Hiền (1984). Đó là vào tháng 6.2009, Hiền theo ghe lặn ở quần đảo Trường Sa. Đợt ấy, sau mấy ngày lặn bắt, Hiền đã kiếm được kha khá hải sản. Mừng thầm trong dạ, Hiền bảo với mọi người rằng, sau chuyến đi biển này sẽ về tậu xe, lo cho gia đình và biết bao dự định khác. Ấy vậy mà ai biết trước chữ ngờ, Hiền tiếp tục lặn vào ngày 22.6.2009 và nằm lại với đại dương mãi mãi không về. Bởi khi Hiền còn đang trầm mình dưới làn nước mặn thì lốc dữ ở đâu cuồn cuộn kéo đến. Bạn chài lúc ấy thân lo chưa nổi, huống hồ đến người khác dưới nước. Khi lốc qua rồi, cả thuyền lặn lau nước mắt, khóc người phận nhỏ nhoi. Còn Hiền mãi mãi về với biển.
Có không ít trường hợp khi bị rơi xuống biển, ngư dân chỉ hét lên một tiếng rồi chìm sâu trong tiếng gào thét của đại dương. Thân xác trôi tận nơi ai biết được. Âu thì "sinh nghề tử nghiệp", sống được cũng nhờ biển, mà chết đi thì về với biển. Biển cho người bằng tôm cá và lấy lại bằng mạng sống, sao mà xót xa đến thế...
Dù sao, ông Luôn cũng còn sức vóc để nuôi mình, vẫn hơn cuộc đời bà Nguyễn Thị Dục. Bà có hai lần biển làm rơi nước mắt, đưa bà đến cảnh goá bụa đơn côi. Lần đầu bà khóc chồng mệnh bạc ra đi khi tuổi chưa tới tứ tuần. Bóp bụng nuôi đứa con trai Nguyễn Thanh Dũng lớn lên. Thế rồi, khi nó theo người đi biển được 2 năm, mới bước vào năm thứ 3 thì ngã xuống biển chết đi khi mới 25 tuổi đời vào một đêm tối lạnh giá cách đây gần 5 năm, bỏ lại trên đời người mẹ lẻ loi một mình. Bây giờ, tóc đã chuyển màu, không ít lần, bà Dục nhìn lên di ảnh con trai rồi âm thầm khóc...
Gặp những người dân ở Châu Thuận Biển, thật chẳng đành lòng chút nào khi khơi dậy chuyện cũ. Bởi cứ khơi lên chuyện cũ, thấy nước mắt của những người phụ nữ cứ lăn dài trên má, tôi lại chạnh lòng. Nước mắt họ một phần thương cho chồng con xấu số nằm lại nơi biển cả, phần khác, họ thương thân mình khi "tam tòng" làm dâu xứ biển... Khi nhìn ngôi nhà của Bà Nguyễn Thị Hào có vẻ như khang trang nhưng có ít ai ngờ đời bà lại buồn đến thế. Khi nhìn người phụ nữ gầy nhom 60 tuổi này, ánh mắt bà sẽ nói lên tất cả. Nó sâu thẳm như biển và buồn như vệt nắng cuối ngày mùa đông. Câu chuyện bà kể cho tôi nghe cũng buồn, không kém...
Bà Hào quê ở xã Bình Tân, chuyên làm ruộng nông chứ không đi biển như ở đây. Bà gặp ông Nguyễn Huê khi ông đang hoạt động kháng chiến trong lực lượng an ninh Đông Sơn. Sau ngày giải phóng bà Hào theo chồng vể thôn Châu Thuận Biển sinh sống. Hàng ngày, bà lo nội trợ gia đình, còn chồng bà là ông Nguyễn Huê đi làm biển. Vậy mà sao cứ giống ngày ông cầm súng đáng giặc, mỗi bận nghe tàu ông Huê nhổ neo ra khơi, lòng bà Hào như co lại. "Người ta nhìn vào tưởng người đàn bà xứ biển là sung sướng. Cả ngày ngồi chơi, đến bữa là nấu ăn, giặt giũ. Nhưng người ra đâu biết bao nhiêu ngày chồng con lênh đênh trên biển là bấy nhiêu ngày âu lo, phiền muộn, đêm ngủ cứ chập chờn mộng mị".
Bà Hào bảo rằng, bà chỉ thật sự an tâm khi ghe ông Huê gọi điện về báo là gần đến bờ. Vậy mà việc gì đến đã đến, chuyện đau thương lại ùa đến với bà Hào vào trung tuần tháng 3.2008. Tàu ông Huê xuất bến ra khơi và nằm lại với biển đông trong một đêm giông tố. Trong ngày ấy, bà Huê mất đi chồng, con trai Nguyễn Văn Ngữ, một em rể và vài người thân trong tộc họ. Bà Hào chỉ cho tôi hai tấm di ảnh trên bàn thờ rồi bảo: "Ổng hiền lắm. Bao nhiêu năm đối diện với mưa bom bão đạn quân thù không chết, mà chỉ chết dưới một đợt phong ba của biển". Còn Ngữ, con trai bà Hào, khi nằm lại với biển đã bỏ lại người vợ mới cưới chừng nửa năm.
Sau ngày chồng, con mất, bà Hào gồng mình nuôi hai con nhỏ. Đến nay, một đứa đã đi xuất khẩu lao động, một đứa sắp đi học nghề kiếm cơm, còn con dâu "buồn quá cũng xin vào TP Hồ Chí Minh kiếm kế sinh nhai". Bây giờ bà Hào ngồi lại một mình vẩn vơ với căn nhà đang xuống cấp, chẳng biết sập xuống khi nào... Kể chuyện chồng con, mắt bà Hào ứa ra. Nhìn nước mắt của bà, tôi càng biết thêm rằng, miếng cơm của người đàn bà xứ biển luôn mặn chát cả biển, mồ hôi của chồng, con và nước mắt của người đàn bà xứ biển trộn vào.
Có lẽ nước biển sẽ còn mặn hơn theo năm tháng, khi có nhiều người đàn ông xứ biển ra khơi mãi mãi không về... Tuy nhiên, không chỉ ở làng Châu Thuận Biển và Bình An Nội, nếu đi nhiều làng biển ở Quảng Ngãi và cả nước, có lẽ sẽ còn bắt gặp nhiều "làng" khác nữa....
|
Bà Nguyễn Thị Hào ở bên bàn thờ chồng và con đi biển bị chêt năm 2008.
|
Trở lại Bàn An
Chủ tịch UBND xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) Nguyễn Anh Tuấn nói với tôi, 21 hộ có chồng, con, cha, anh mất tích trên biển vào tháng Giêng năm 2005 trên thuyền của ông Trương Thanh Hưng ở làng Bàn An có cuộc sống rất khổ. "Người mất tích đều là lao động chính nuôi cả nhà, nên khi mất đi, nhà còn lại người già, đàn bà và con nít. Mà ở thôn Bàn An này, 100% đều sống bằng nghề biển. Đàn bà, con nít làm sao đi biển được... ", anh Tuấn bỏ dở câu nói buồn. Và nếu có nói thêm lời nữa, anh cũng không nói hết được những cảnh khổ cả người ở làng chài này.
Anh Tuấn bảo rằng, lâu nay chính quyền xã đã làm những gì "có thể" để giúp họ như: Miễn tiền đóng góp xây dựng giao thông nông thôn; miễn giảm học phí; khi có hỗ trợ của cấp trên thì ưu tiên cấp nhiều và cấp trước hơn so với người khác; cấp tiền cứu trợ hàng tháng... "Mà thôi, xuống dưới ấy rồi sẽ thấy!", anh nói.
Theo chân ông Mai Cho, cán bộ làm công tác chính sách lao động, thương binh và xã hội xã Phổ Quang, tôi tìm về lại làng Bàn An. So với 5 năm về trước, làng biển này đã thay đổi nhiều, khang trang với con đường bê tông phẳng lỳ, rộng thoáng. Nhìn cảnh này, ít ai hình dung cảnh sụt sùi nước mắt của 21 con người trên chiếc tàu cá năm nào. Hồi đó, cứ mỗi buổi chiều se lạnh đầu Xuân, hàng chục gia đình có người thân mất tích lại đi ra biển ngóng chờ. Trong số ấy có chị vừa mới sinh nở vài ba tháng, có chị còn bụng mang dạ chửa. Bây giờ, những đứa trẻ trong độ 5 - 6 tuổi ở Bàn An, nếu em nhỏ nào không biết mặt cha, thì đó là con của những người xấu số mất tích trên biển năm xưa.
Bước vào một quán nước ven đường, vô tình tôi gặp lại ông Phùng Văn Cảnh - một trong những người mà tôi đã gặp 5 năm về trước. Bận này, ông Cảnh như già hơn trước cái tuổi 64 rất nhiều. Ông thở dài: "Làm sao khoẻ được cháu. Thằng con duy nhất (Phùng Văn Chữ) mất rồi, mấy đứa con gái đi lấy chồng hết. Nước mắt chưa ráo, mồ hôi đã chảy hàng ngày, vì bà nó (vợ ông Cảnh – pv) bị bệnh nằm tại chỗ. Tui phải lo chạy ăn từng bữa...". Con trai ông Cảnh mất khi cưới vợ được hơn một năm, chưa kịp có mụn con nối dõi. Con dâu ông ngày nào cũng đau buồn. Tháng 9/2009, ông Cảnh cười mếu máo đưa con dâu tái giá. Căn nhà ông giờ vắng tênh. Hàng ngày ông Cảnh vào ra. Ánh mắt đứa con trai trên bàn thờ mỉm cười nhìn xuống an ủi ông mỗi ngày.
Vào nhà bà Huỳnh Thanh Liêm (57 tuổi), tôi thấy bà không buồn như ông Cảnh, vì bà còn có 3 đứa cháu ngoại để làm vui hàng ngày. Bà bảo mấy ngày qua bị té bong gân chân, nên hai đứa cháu nội đã về ngoại ở, nếu không một mình bà hàng ngày quản 5 đứa nhỏ chứ không chỉ 3 đứa như bây giờ. Nhìn cách ăn nói và ánh mắt bà Liêm, tôi vẫn thấy phảng phất nỗi buồn dù cơn đại nạn đã qua 5 năm rồi. Hồi đó, bà mấy đi 3 người thân là chồng, con trai và con rể.
Bà Liêm kể: "Mất tích hồi tháng Giêng, nhưng đến tháng 5 mới lập bàn thờ. Bởi không trường hợp như tàu cá này, biến mất mà không để lại giấu vết gì. Tui hy vọng còn sống, nên ai làm mối thầy nào coi (thầy bói-pv) giỏi, bất kể Hà Nội, Sài Gòn gì cũng tới tận nơi để xem. Rồi ở đâu cũng bảo cả tàu còn sống nhưng đang ở xa lắm. Riết rồi "tiền mất tật mang", tui không hy vọng nữa, mới về lập bàn thờ cúng, lấy ngày 24.1 âm lịch làm ngày giỗ".
5 đứa trẻ không cha mà bà đang trông nom bây giờ cũng chính là con cháu ngoại, cháu nội của bà. Chẳng đứa nào biết mặt cha. Còn mẹ của chúng nó, ở Bàn An không đi biển được, chẳng có ai mướn làm gì, nên đành vào TP.HCM làm thuê kiếm sống. Mỗi tháng, hai đứa con gái và con dâu gửi về mỗi đứa 1 triệu đồng để nuôi con. Bà Liêm cũng dựa vào số tiền ấy và trông vào lũ cháu ấy để nương tựa đời mình. "Nhưng nghe nói làm cực khổ lắm, hai đứa đâu dám ăn sáng... ". Bà Liêm nói và nhìn ra hướng biển. Gío từ biển đưa về từng làn hơi nước mặn nồng.
|
Bà Huỳnh Thanh Liêm bên 3 đứa cháu ngoại.
|
Ngôi nhà không có đàn ông
"Từ ngày ảnh mất, em đưa ngôi nhà từ vườn sau ra phía trước đường để dễ dễ mua bán. Vì nếu không buôn bán, kiếm một ngày vài đồng thì làm sao nuôi 3 đứa con", Huỳnh Thị Kim Loan, 35 tuổi, vợ của chủ tàu Trương Thanh Hưng bị mất tích năm 2005 ở thôn Bàn An, xã Phổ Quang (Đức Phổ) thổ lộ.
Nhớ lại ngày chồng và 20 ngư dân khác mất tích trên biển, người goá phụ trẻ này mới sinh con được mấy tháng, chưa kể hai đứa con thơ dại giờ hỏi lại vẫn không hình dung nổi gương mặt cha mình. Thế rồi, khi hết hy vọng chồng trở về, Loan bắt tay vào lo toan làm ăn để tự nuôi thân và ba đứa con. Trong thời gian ấy, vì buồn mất người thân, mất của, nên những người thân trong gia đình của Loan suy sụp và lần lượt ra đi. Đầu tiên là bà nội và cha chồng, sau đó đến bà ngoại. Nghĩa là trong vòng từ năm 2005-2008, bốn cái tang đã phủ lên trắng xoá mái đầu người goá phụ tóc còn xanh này. Tôi không hiểu bằng nghị lực nào, người phụ nữ ấy chịu đựng giỏi đến thế.
Đó là chưa kể, Loan phải vừa gánh nỗi đau trong lòng, vừa phải lo cho con cái lớn lên. Trò chuyện với tôi, Loan bảo: "Cái thôn Bàn An này, đàn ông đi biển hết, nên bia, rượu và nhiều thức ăn uống, sinh hoạt khác hàng ngày, bán không được bao nhiêu, nhiều nhất cũng chỉ trên dưới 100.000 đồng tiền vốn trong ngày". Trong khi đó, chỉ một cái làng nhỏ, không chỉ có hàng quán của cô, mà có gần chục quán nhỏ nữa. Tất cả cũng của những người phụ nữ có chồng xứ biển này mở ra kiếm thêm tiền phụ chồng. Vì vậy, Loan xoay qua đan lưới, vá lưới thuê cho người khác. Cứ vá mỗi kg lưới, người ta trả cho 1.500 đồng. "Có ngày, do lưới rách quá, em vá thủng cả tay mà không kiếm được 10.000 đồng. Cực quá nhưng em phải làm để nuôi con thôi", Loan nói.
Biển luôn mặn nồng. Phải chăng biển mặn nồng cũng vì chứa quá nhiều nước mắt của những người phụ nữ đêm đêm khóc chồng, khóc con...
Bài & ảnh: PHẠM ANH