câu chuyện tình thân
Bánh đúc có xương
Không mang nặng đẻ đau nhưng người phụ nữ ấy đã đối đãi với con chồng bằng tất cả tình thương của một bà mẹ và đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam, dù đôi khi gánh nặng tình thương ấy quá sức mình.
 |
|
Bà Đông bên người con chồng bị tâm thần
|
Hỏi đường nhà bà Hà Thị Đông (thôn Vĩnh An, xã Song Mai, TP Bắc Giang) chúng tôi được chỉ vào một xóm nghèo nằm ven đê. Đi qua cái cổng gỗ mục nát là một căn nhà lợp ngói cũ kỹ. Nhà vắng tanh, chỉ thấy một người đang ngồi trên giường nhìn ra ngõ qua một ô cửa sổ cười ngu ngơ. Người nông dân dẫn đường cho biết đó là Phạm Thị Bốn, cô con chồng bị tâm thần mà bà Đông đang nuôi. Khi chúng tôi cất tiếng chào, cô gái cười nhe hàm răng đã mất hết răng cửa và hét to: Chào. Rồi cô chỉ ra ngõ, miệng bập bẹ: Mẹ. Người nông dân đi cùng giải thích: Ý nó bảo mẹ chưa về.
Tất bật ngược xuôi vì con chồng
Nhá nhem tối mới thấy một phụ nữ gầy gò tất tả đi từ ngoài cổng vào. Bà cho biết hôm nay là tiết Thanh minh, bà cùng mấy người con chồng ra nghĩa trang tảo mộ cho bố chúng và người vợ trước. Rồi xin lỗi khách, bà vội vàng đi lấy đĩa, bày mấy trái xoài lên bàn thờ chồng và vợ trước rồi đốt hương, lầm rầm khấn vái. Cúng xong, bà mới ra bàn tiếp khách và kể về cuộc đời mình.
Bà Đông là con đầu lòng trong một gia đình nghèo có sáu anh em. Hoàn cảnh khó khăn nên bà phải cùng cha mẹ gánh gồng lo cho các em. Đến khi các em trưởng thành, bà giật mình nhìn lại thấy mình đã lỡ thì. Qua người quen giới thiệu, bà biết ông Phạm Văn Thức là thương binh nặng, vợ đã mất vì bệnh hiểm nghèo, để lại đàn con nhỏ năm đứa cho ông chăm lo. Nhìn gia cảnh người đàn ông đau yếu vì di chứng chiến tranh với các con nhỏ, trong đó có một người bị tâm thần nhẹ, một tâm thần nặng, bà Đông thương cảm nhận lời gá duyên cùng ông. Mới tất bật lo cho các em xong, giờ bà lại tất bật lo cho con chồng. Chồng là thương binh nặng nên hầu như mọi việc trong nhà mình bà quán xuyến. Với mấy sào ruộng, ngày ngày bà bán mặt cho đất bán lưng cho trời, lúc nông nhàn bà lại mò cua bắt ốc hoặc đi làm thuê để lo cho chồng và con chồng. Cuộc sống ở nông thôn miền Bắc thời bao cấp muôn vàn khó khăn nhưng vốn chịu thương chịu khó, mình bà gắng gồng để có thể lo chu toàn cho gia đình.
Số phận không cho bà hạnh phúc có được mụn con nên bà lấy việc chăm sóc nuôi dạy các con chồng làm niềm vui cho mình. Từ khi bước chân về nhà chồng, hàng xóm chưa bao giờ thấy bà hắt hủi các con chồng như người đời vẫn ác mồm: Mấy đời bánh đúc có xương... Các con của chồng bà, lúc đó còn nhỏ nhưng cũng đã hiểu gia đình cần bàn tay người phụ nữ nên vui vẻ đón nhận người mẹ mới. Lúc đầu chỉ là sự chấp nhận nhưng nhìn cách chăm lo của bà, họ dần yêu thương bà và khoảng cách mẹ ghẻ – con chồng không còn nữa. Bà luôn dặn các con phải có trước có sau, phải luôn chăm lo cho phần mộ và bàn thờ mẹ đẻ mình.
Các con dần khôn lớn, một mình bà đứng ra dựng vợ gả chồng cho hết thảy bốn người, chỉ còn người con thứ tư bị tâm thần nặng phải ở cùng vợ chồng bà. Hàng ngày, bà vẫn đầu tắt mặt tối lo thuốc thang cho chồng và chăm sóc người con suốt ngày cười ngu ngơ, thậm chí khi lên cơn còn đập phá. Rồi người chồng trở bệnh nặng, phải nhập viện, một mình bà tất tả vừa chạy lên bệnh viện chăm chồng, vừa về lo cho người con ngẩn ngơ. Bà như rút cạn sinh lực để chăm sóc nhưng rồi ông vẫn ra đi. Trước khi mất, ông nắm tay bà trăng trối: “Đời con Bốn cậy nhờ vào bà”. Chỉ khi bà gạt lệ gật đầu ông mới yên tâm nhắm mắt.
Lo mình nằm xuống, ai chăm con chồng?
Người chồng, sợi dây liên kết giữa bà với các con đã đứt nhưng không vì thế mà tình cảm giữa bà và con chồng sứt mẻ. Những khi bà ốm đau hay khi nhà có việc gì cần là mấy anh em lại nhắn nhau về làm giúp mẹ. Đến ngày tết hay giỗ chạp, mấy anh em lại kéo về nhà với mẹ Đông.
Trong khi bà cùng chúng tôi trò chuyện thì Bốn ngồi trên giường nhe răng cười và kêu: Đói. Bà xin phép khách vội vàng đi vo gạo nấu cơm, câu chuyện của chúng tôi phải tiếp tục bên bếp lửa. Bà bảo để con bé đói lâu, nó nổi cáu đập phá thì khổ lắm. Chính vì thế đi đâu bà cũng phải lo về sớm. Mấy hôm nay mẹ của bà ở huyện bên đã 78 tuổi bị bệnh nặng nên bà cứ phải chạy đi chạy về chăm sóc mẹ. Bà bảo mẹ bệnh nằm đó mà mình không cận kề chăm sóc, chỉ sợ mẹ ra đi lại hối hận nên nhiều lúc chỉ muốn bỏ cái gánh nặng này để về chăm mẹ, nhưng ra đi không đành. Có những lúc bất lực và khổ sở quá, bà khóc trước bàn thờ chồng và vật vã gọi: Ông Thức ơi! Ông về mà nuôi con, sao bỏ tôi mà đi thế này?
Chăm Bốn rất vất vả vì cô không thể đi lại, chỉ ngồi trên giường và vệ sinh tại chỗ, một mình bà Đông vừa đút cơm cho ăn vừa phải thay giặt, lau dọn giường chiếu. Nhiều khi Bốn khó chịu quát cả mẹ nhưng bà chỉ nạt khẽ vài câu. Bà bảo Bốn cũng biết thương mẹ. Ngẩn ngơ thế nhưng hình như Bốn cũng cảm nhận được mẹ Đông là chỗ dựa duy nhất nên mỗi lần bà đi đâu là Bốn lại khóc vì sợ mẹ đi mất. Rồi cả ngày Bốn ngồi bên khung cửa sổ nhìn ra ngõ ngóng mẹ về. Tối nào bà về muộn là Bốn khóc và nhất định không chịu ăn, chờ bằng được mẹ Đông về đút. Bà kể có lần mình ốm, không dậy được Bốn cũng khóc gọi: Mẹ! Mẹ! Vì cái tình của đứa con chồng ngẩn ngơ ấy mà đi đâu bà cũng sấp ngửa lo về.
Bà Đông cho biết gần đây, bà phát hiện bị bệnh gan rất nặng. Những khi đêm về, bà lại nằm trăn trở thương mình, thương con. Bà chỉ lo nếu mình nằm xuống thì đứa con tội nghiệp kia lấy ai chăm sóc. Và sáng mai ra, trên đầu người đàn bà lận đận cả đời ấy lại thêm vài sợi bạc…
bài và ảnh: Hà Dịu