sgtt.vn, 24.05.2012  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 02.08.2010, 08:05 (GMT+7)

Giá trị sống

Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu viện trưởng viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam

Mong Việt Nam có nhiều nông gia tri thức

SGTT.VN - Gia tộc ông năm đời sống ở Sài Gòn. Ông cũng sinh ra, lớn lên học hết tú tài ở Sài Gòn, nên có thể nói ông là người Sài Gòn chính gốc. Nhưng có lẽ số ông được xếp đặt theo nông nghiệp nên năm 1972 khi thi hai ngành: lâm nghiệp ở cao đẳng Nông lâm Thủ Đức và nông nghiệp ở cao đẳng Nông nghiệp Cần Thơ (sau đổi tên là đại học Nông nghiệp Cần Thơ), thì ông đậu nông nghiệp. Ông xuống Cần Thơ học và gắn cuộc đời với nông nghiệp từ đó.

Ông từng nói rất yêu cây lúa nhưng về sau sao lại chuyển sang nghiên cứu cây ăn trái?

Tôi ra trường năm 1978, trễ hai năm do sau ngày đất nước thống nhất, sinh viên phải học thêm chính trị và tham gia lao động. Tôi nhận nhiệm sở theo sự phân công của Nhà nước. Tôi dường như quên mình là người Sài Gòn, sung sướng khi được phân công về viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long ở huyện Ô Môn, Cần Thơ, dù thời đó chung quanh viện còn hoang sơ lắm. Tháng lương đầu tiên của tôi là 51 đồng. Cuộc sống khổ cực nhưng tôi trụ được trong khi một số kỹ sư không chịu nổi nên xin chuyển về Sài Gòn.

Sau chín năm làm việc ở viện Lúa, tôi được cho du học ở Ấn Độ, xong thạc sĩ nông nghiệp, học lên tiến sĩ. Du học về chưa được một năm, tôi được biết Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó chỉ đạo bộ Nông nghiệp thành lập trung tâm nghiên cứu cây ăn trái cho miền Nam. Tôi học ngành lúa, gắn với ruộng lúa, nông dân trồng lúa hơn chục năm, đâu nghĩ mình tham gia vào lĩnh vực cây ăn trái. Vậy mà đầu năm 1994, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Luật đề cử tôi với bộ trưởng để nhận nhiệm vụ giám đốc trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả Long Định, tiền thân của viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam ngày nay. Đây là thử thách lớn đối với tôi vì không hề biết gì về trồng cây ăn trái.

Vậy phải mất bao lâu ông mới học được nghề làm vườn?

Nhiệm vụ mới ở một lĩnh vực khác hoàn toàn những gì mình thân quen trước đó, tôi tự xác định mình phải bỏ sách vở về cây lúa qua một bên để bắt đầu học và yêu cây ăn trái. Nhờ trước đó thường làm công tác quan hệ quốc tế nên tôi kêu gọi hợp tác quốc tế rất sớm cho trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả Long Định. Trung tâm thành lập tháng 4.1994 thì tháng 10.1994, chúng tôi đã tổ chức hội thảo đầu tiên tại Việt Nam về bệnh vàng lá trên cây có múi. Sau hội thảo đó, tôi cùng anh em trong trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả Long Định đi học kỹ thuật sản xuất cây giống sạch bệnh ở Pháp. Đến giờ, tôi có thể nói anh em kỹ sư của viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã tạo được rất nhiều cây giống sạch bệnh để cung cấp cho nhà vườn.

Ông có dễ dàng thuyết phục nông dân thay đổi thói quen canh tác hay thay đổi giống?

Tấm lòng yêu nghề, sự trẻ trung, năng động của anh chị em trong viện đã nhanh chóng đưa đến kết quả. Nhờ những việc mình làm được cho nông dân rất thực tế nên nông dân nghe chúng tôi nhiều. Giới khoa học cũng nhìn nhận những nỗ lực của viện, chẳng hạn sáng kiến trồng ổi trong vườn cây có múi, tạo giống cây sạch bệnh, tạo giống mới như thanh long đỏ, chuẩn bị ra đời những giống mới nữa. Tôi tự hào viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam có một đội ngũ trình độ cao chuyên từng loại rau quả. Về nghiên cứu khoa học, tôi rất chú ý công tác đào tạo, mỗi năm, gửi ít nhất hai, ba người đi học trên đại học ở nước ngoài.

Phải xoá hình ảnh nông dân chỉ biết cày sâu cuốc bẫm, phải nâng họ lên là người làm nông nghiệp có tri thức, từ đó lớp trẻ sẽ nghĩ đến việc họ được về nông thôn làm việc là sự tự hào, được xã hội trân trọng. Nông dân phải ráng cho con học để giữ ruộng vườn mà làm giàu.

Thuyết phục nông dân cũng không khó. Năm 2003, tôi tiếp xúc lần đầu tiên với những lý thuyết về tiêu chuẩn GlobalGAP trong buổi giới thiệu của một tổ chức Thái Lan, tự thấy có quá nhiều thứ phải làm, nên lo nông dân không thực hiện được. Năm 2005, viện có dự án phối hợp với Úc và Mỹ để triển khai EurepGAP. Năm 2006, cùng chuyên gia, các cán bộ khoa học của viện đã tư vấn để mô hình trồng thanh long ở Bình Thuận được chứng nhận EurepGAP đầu tiên ở Việt Nam. Vậy mà trước đó hai năm thôi, tôi đã nghĩ không thể đạt được. Đến năm 2008 thế giới không gọi là tiêu chuẩn EurepGAP nữa mà sửa lại thành tiêu chuẩn GlobalGAP, chúng tôi tư vấn cho vùng xoài cát Hoà Lộc đạt tiêu chuẩn này. Năm 2009, viện tư vấn cho nông dân trồng khóm ở Tân Phước (Tiền Giang) đạt chứng nhận VietGAP.

Nói những điều trên để thấy nông dân không khó thay đổi thói quen canh tác. Sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) phải ghi chép lại những việc làm trên vườn, ruộng, phải thay đổi cách canh tác không đúng, nhưng nông dân mình làm được hết. Được chứng nhận không phải dễ, viện chỉ tư vấn, còn đơn vị khác chứng nhận, nên không có chuyện xét nương tay cho nông dân. Tôi nghĩ những loại cây ăn trái ở bất kỳ địa phương nào cũng có thể đạt GlobalGAP hoặc VietGAP trong thời gian tới nếu chúng ta tích cực vận động và hướng dẫn nông dân kỹ lưỡng.

Ý tưởng hội thi cây xoài giống tốt mà trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả Long Định tổ chức có thể xem là tiền thân của các hội thi trái ngon, cây giống tốt sau này. Ông ghi nhận được sự phát triển về giống cây ăn quả của miền Nam hiện nay thế nào?

Đúng như chị biết, hội thi cây giống tốt đầu tiên trên cả nước là vào tháng 4.1996, chuyên cho cây xoài. Lúc đó, chúng tôi định ra ba nội dung chấm điểm. Trước tiên là chấm điểm cây tại vườn, chấm điểm chất lượng trái của cây đó, rồi mời những người làm khuyến nông, các sở nông nghiệp, hội Làm vườn Việt Nam vào thành phần giám khảo cùng so sánh để xác nhận chất lượng của các cây cho trái khác nhau, cuối cùng chọn ra cây cho trái ngon nhất. Nhờ cách chấm điểm đó mà khi công bố giải thì được sự đồng thuận của các địa phương, dù khi nói cây này cho trái ngon hơn cây kia, cây tỉnh này cho trái ngon nhất, cây tỉnh kia kém hơn là một chuyện rất lớn.

Từ hội thi đó và nhiều hội thi tiếp theo cho những cây ăn trái quan trọng như bưởi, sầu riêng, nhãn, cây có múi…, chúng tôi đã chọn ra được các cây đầu dòng để từ đó nhân giống ra. Miền Nam may mắn có những cây giống cho trái ngon nhất châu Á như xoài cát Hoà Lộc, nhãn xuồng cơm vàng, bưởi da xanh, chôm chôm nhãn, sầu riêng Ri-6, sầu riêng Chín Hoá… Tuy nhiên, chúng ta thua Thái Lan, Đài Loan ở cách tổ chức sản xuất lớn và tiếp thị nên hiệu quả kinh tế chưa cao.

Bệnh viện cây ăn trái cũng là một sáng kiến của viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam. Ông có nghe nhà vườn đánh giá gì về hoạt động của bệnh viện này?

TS Nguyễn Minh Châu (bìa trái) và GS.TS Võ Tòng Xuân (giữa) bàn với nông dân cách phục tráng cây tiêu Phú Quốc. Ảnh: CN

Phải nói đây là một sáng kiến mà cũng là một việc làm mang tính hỗ trợ cộng đồng của anh chị em trong viện. Lúc đầu nông dân đến đông, sau này nông dân đến ít hơn vì đã được hướng dẫn tốt. Mỗi năm viện tổ chức hội thi trái ngon ở bảy tỉnh, thành. Mỗi lần như vậy thì xe bệnh viện lưu động đến tận nơi và các bác sĩ cây trồng sẵn sàng tư vấn tại chỗ cho bà con. Sắp tới, bệnh viện này sẽ được đầu tư thêm thiết bị từ dự án hỗ trợ của Nhật. Các bác sĩ phục vụ tự nguyện, viện không cấp kinh phí, nhưng các cán bộ khoa học trẻ đa phần không tính toán, không lấy tiền của nông dân, còn cho tài liệu, nên bệnh viện được nông dân hoan nghênh.

Tiếp xúc với nông dân nhiều, ông học được gì ở họ? Hay có những tính cách gì ở họ mà ông nhận ra rằng nó làm cho họ chậm phát triển?

Những nông dân giỏi đều có tay nghề, biết nghề, đều là những người chịu khó tìm tòi, học hỏi. Sự biết nghề của nông dân thể hiện ở chỗ họ đã biết tiếp cận thị trường để có những quyết định kịp thời trồng đúng giống ngon, bán được giá cao. Những nông dân thật giàu có thêm đặc điểm nữa là họ cùng lúc trồng được nhiều loại cây, nuôi nhiều con, như ông Huy ở Đức Hoà, Long An vừa làm rau, cao su, cây ăn trái, nuôi cá; hay chị Thu có khách sạn ở Sài Gòn cho thuê, không thiếu tiền nhưng hai vợ chồng cũng vì mê làm nông nghiệp nên lên Bình Phước mua đất trồng 200ha cây ăn trái. Quản lý 200ha không phải dễ, vậy mà chị Thu làm rất tốt. Tuy vậy, nếu so với người Đài Loan thì mức độ chịu khó của nông dân Đài Loan cũng đáng để chúng ta học tập.

Ngược lại với những nông dân, nhà vườn giỏi, vẫn còn nhiều nông dân chưa chịu khó học, cứ trồng đại, không chăm chỉ làm ăn nên nghèo hoài. Nói chung đa phần nông dân phấn đấu nhưng mức phấn đấu phải cao hơn nữa và phải biết tiếp cận thị trường. Còn hiện nay, nông dân vẫn giữ tập quán bán trái tại vườn, ruộng nên trung gian hưởng nhiều.

GS.TS Võ Tòng Xuân

“Khi còn là sinh viên, Châu đã góp công xây dựng ngân hàng giống lúa địa phương. Châu năng động, có kiến thức cơ bản tốt, luôn tìm tòi, học hỏi cái mới, nên từ lúa chuyển sang cây ăn trái đã làm được rất nhanh, kéo được những tổ chức quốc tế về hỗ trợ cho nông dân trồng cây ăn trái. Châu là nhà khoa học có tinh thần cầu thị, không ngại khó, được giao việc gì là làm đến nơi, đến chốn. Châu cũng là người biết chăm sóc đội ngũ khoa học nông nghiệp trẻ”.

GS.TS Trần Thế Thông

“Ý tưởng thành lập một cơ quan khoa học nghiên cứu về cây ăn trái ở miền Nam là của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Khi đó, tôi là viện trưởng viện Khoa học nông nghiệp miền Nam và giáo sư Vũ Công Hậu là chuyên gia đầu ngành về cây ăn trái đang làm cố vấn cho viện, đều thấy ý tưởng rất đúng. Tuy nhiên, tôi nói với Thủ tướng rằng viện Khoa học nông nghiệp miền Nam không có người đảm đương được nhiệm vụ tổ chức hoạt động trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, nên khi giáo sư Luật tiến cử anh Nguyễn Minh Châu, chúng tôi ủng hộ ngay. Có thể nói anh Châu là một nhà khoa học giỏi đã đóng góp nhiều vào việc phát triển ngành cây ăn trái ở phía Nam”.

Để cải thiện cuộc sống người nông dân nghèo, chỉ có một con đường là khuyến khích và tạo điều kiện cho họ học, nếu không có kiến thức thì họ sẽ tiếp tục nghèo. Phải xoá hình ảnh nông dân chỉ biết cày sâu cuốc bẫm, phải nâng họ lên là người làm nông nghiệp có tri thức, từ đó lớp trẻ sẽ nghĩ đến việc họ được về nông thôn làm việc là sự tự hào, được xã hội trân trọng. Nông dân phải ráng cho con học để giữ ruộng vườn mà làm giàu. Tôi được biết nhiều nông dân chịu vất vả nhưng có ý thức đầu tư cho con học và con cái đã thành đạt, tiếp nối công việc làm nông ở trình độ cao hơn và kết quả rất tốt. Những nông dân mà tôi khâm phục như ông Tư Chung (Tiền Giang), Hai Hoa, Tư Thành (Bến Tre), ông Huy, chị Thu… đều là những tấm gương chăm chỉ và chịu học hỏi, tích luỹ nhiều năm mới được giàu có. Tôi luôn mong Việt Nam có nhiều nông gia tri thức.

Quản lý một viện nghiên cứu gắn với nông nghiệp, nông thôn và nông dân, ông làm gì khi những cộng sự của mình không muốn gắn với ruộng vườn nữa?

Những người gắn bó với khoa học, mà nhất là với nông nghiệp, với nông dân phải có lòng yêu nghề, nếu không thì không trụ nổi với đồng lương thấp so với ra làm việc cho các công ty. Tôi khẳng định những anh chị em trong viện đa phần thật sự yêu nghề nông, thương nông dân. Thử hỏi thạc sĩ lãnh lương ba triệu đồng mỗi tháng cũng làm miệt mài, trong khi các công ty có thể trả họ 600 USD một tháng. Khi được đưa đi đào tạo, ai cũng hứa về làm việc tại viện, nhưng một số không giữ lời hứa. Hiện nay tình hình thiếu nhân sự ở các viện là có. Muốn giữ người, nhưng chưa được tự quản về nhân sự, về kinh phí, thì khó lắm cho các viện.

Công việc đòi hỏi ông đi nhiều. Ông làm gì để tìm cảm hứng công việc, tạo sự năng động cho mình?

Cảm hứng của tôi là sự yêu nghề. Cảm hứng thứ hai là khi gặp nông dân, tôi thấy mình có nhiều cái học được, mặc dù chúng tôi cũng hướng dẫn họ nhiều thứ. Tôi luôn tìm được cái mới trong mỗi lần đi tiếp xúc với nông dân. Hiện nay, ngoài chuyển giao kỹ thuật, tôi thấy mình còn phải biết chuyển giao thông tin thị trường cho nông dân để họ biết trồng cho đúng yêu cầu người tiêu dùng như trái phải có chất lượng cao và phải an toàn vệ sinh thực phẩm.

Những người đã có tác động tinh thần đến quá trình làm việc, phấn đấu của ông?

Bậc tiền bối như các thầy Võ Tòng Xuân, Vũ Công Hậu, Trần Thế Thông… là những nhà khoa học tôi rất kính trọng vì sức làm việc không mệt mỏi, luôn trăn trở vì nền nông nghiệp nước nhà. Khi đào tạo, dẫn dắt được mỗi học trò thành công, tôi nhìn thấy niềm hạnh phúc hiện trên gương mặt của các thầy. Người thầy tôi yêu quý nhất là thầy Võ Tòng Xuân, có lẽ do thầy hướng dẫn tôi làm luận văn tốt nghiệp kỹ sư. Thầy Xuân là người đã truyền cho tôi tình yêu cây lúa và yêu nông nghiệp. Sau này khi gắn với cây ăn trái, người làm tôi cảm kích là thầy Trần Thế Tục – nguyên viện trưởng viện Nghiên cứu rau quả, đến giờ thầy vẫn động viên tôi.

Gia đình chia sẻ với công việc của ông như thế nào?

Vợ tôi cũng trong nghề nông nghiệp, là tiến sĩ bảo vệ thực vật nên rất hiểu công việc của tôi. Vợ tôi sống rất giản dị, cũng đam mê nghề, gần gũi nông dân, đã về hưu nhưng vẫn tham gia với bệnh viện cây trồng, hướng dẫn sinh viên làm đề tài. Việc thường xuyên nhất hiện giờ của vợ tôi là nuôi cháu nội, niềm vui của vợ chồng tôi. Ngoài giờ làm việc, tôi thường xem tin tức trên truyền hình, xem báo và nghe nhạc.

Trong cuộc sống, ông sợ nhất điều gì? Điều khó nhất mà ông phải vượt qua là gì?

Tôi sợ nhất là sống không trung thực. Tôi thích sự đơn giản trong cuộc sống, cư xử thật lòng với nhau. Điều khó khăn nhất mà tôi phải vượt qua là làm sao tăng lương cho cán bộ, nhân viên trong viện để giữ được họ. Có được một nhà khoa học giỏi rất khó, mà không giữ được thì thật đáng tiếc.

thực hiện: Các Ngọc
chân dung hội hoạ: Hoàng Tường

  
  
Đánh giá bài viết:  

Bài liên quan

ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ email    
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
SGTT.VN - Một ngày như trong mơ là một ngày bạn có thể sử dụng câu thần chú “Apparition” của Harry Potter để hô biến và xuyên đất, xuất hiện ở một vùng đất xa hàng vạn dặm, ăn sáng, rồi lại hô biến, chui lên ở một góc trái đất xa tít mù tắp để uống càphê. Nếu tôi có một ngày như thế, tôi sẽ bắt đầu bằng:

Xem thêm »

09:12 ngày 06.09.2011
SGTT.VN - “Trung tâm” ấy chỉ có một phòng học nhỏ, thế nhưng trong suốt bốn năm qua, đều đặn sáu ngày trong tuần, ngày nào cũng có gần trăm em học sinh tìm đến. Đó là học trò ở các trường cấp 2, cấp 3 tại địa phương.