Đời xiếc
“Nói dối ba mẹ tui học dốt, tháng nào cũng xin tiền học thêm, kỳ thực tui học giỏi, nhưng lấy tiền đó dành mua đồ chế dụng cụ làm ảo thuật, làm xiếc”, anh Nguyễn Tấn Dự khởi đầu chuyện đeo đuổi đam mê với nghề xiếc, ảo thuật của mình như thế
 |
Ở nhà, anh Dự có hẳn một xưởng nhỏ tự chế dụng cụ biểu diễn xiếc |
Anh Dự ở trong một căn nhà nhỏ gần chân cầu Văn Thánh, vẫn cặm cụi chế biến từng dụng cụ phục vụ cho nghề xiếc. Ngoài sân, hai đứa cháu ngoại chưa đầy năm tuổi chạy xe đạp một bánh lượn lờ thật chuyên nghiệp. Anh tươi cười: “Hai đứa nhỏ này sẽ nối nghiệp xiếc của gia đình”. Và câu chuyện cuộc đời anh, đẹp như một tiết mục xiếc hoàn hảo được kể lại...
Từ sự nghiệp ảo thuật
Dáng vẻ khoan thai, nhẹ nhàng, ánh mắt thân thiện, gần gũi với nụ cười hào sảng đúng chất của một lão nông Nam bộ, anh Dự vào đề: “Tui dân An Giang, năm 64 lên Sài Gòn học trường Võ Trường Toản, một bữa sinh nhật bạn có người biểu diễn góp vui mấy tiết mục ảo thuật nuốt dao lam, làm biến đồ đạc khiến tui coi là mê liền. Về nhà mày mò, nghĩ cách làm theo. Trường hay có các chương trình văn nghệ liên trường, tui đăng ký tham gia biểu diễn ảo thuật, dần dần tên tuổi lan ra ngoài và đi biểu diễn kiếm tiền luôn”.
Diễn ảo thuật những trò khéo tay, ăn lửa, ăn dao lam thời những năm 60 không nhiều, anh Dự đắt sô, diễn suốt tuần đến nỗi miệng ăn lửa riết phỏng dộp lên, nhưng cũng không bỏ sô phần vì đam mê, phần vì cuộc sống. Diễn, anh chẳng có nghệ danh, ai giới thiệu gì cũng mặc, miễn cả tuần kín sô là mừng. Sách vở ảo thuật thời đó lại ít ỏi, hình ảnh không có, anh Dự phải tự nghĩ ra các trò mới, nhiều lúc nửa đêm tỉnh giấc chợt loé lên ý tưởng là bật dậy đốt đèn, vẽ lại ngay và hôm sau mày mò thực hiện. Thành công với môn ảo thuật, anh Dự kết luận: “Ảo thuật làm dễ lắm, chỉ cần nắm quy luật, lanh tay lẹ mắt, đánh lừa tâm lý khán giả là thành công nhưng lại hay bị ăn cắp nghề, vừa nghĩ ra trò này diễn được thời gian đã bị người khác “luộc” mất. Nhiều khi họ làm không tới nên khiến trò diễn đặc sắc của mình cũng tiêu tùng luôn”. Anh Dự bắt đầu chuyển hướng sang nghề xiếc với quan niệm: “Xiếc phải có dàn dựng, có công phu luyện tập, khi mình tung ra biểu diễn có ai muốn học theo cũng mất thời gian khá dài, lúc đó mình đã nghĩ ra trò mới để biểu diễn tiếp rồi”.
Đến xiếc nhí
Từ ảo thuật sang xiếc, anh Dự đã có gia đình và trò diễn đầu tiên được anh huấn luyện cho chính con gái đầu lòng, khi ấy mới lên năm. Anh nhớ lại: “Tui chế cái xe đạp một bánh cho nó tập, nhà nhỏ xíu không có chỗ nên phải cho con uống cà phê để sau 10 giờ khuya đưa con và xe đạp ra đường quốc lộ tập luyện, chỉ sau ba tháng đã có kết quả và biểu diễn được”. Và, gánh xiếc gia đình lấy tên con gái là Duy Khiêm thành lập năm 1978.
Sau cô bé Duy Khiêm còn thêm năm người con nữa được anh Dự đưa vào nghề xiếc, cả gia đình mấy cha con rong ruổi đi lưu diễn khắp nơi. Đồ nghề diễn từ trang phục, dụng cụ, dàn dựng… đều do anh tự chế từ các vật phẩm phế thải. Đến năm 1985 anh được mời sang Liên Xô biểu diễn, khi bốn đứa con anh lên sân khấu, một vị khách mời hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật tìm đến anh và hỏi những động tác nhảy múa của các con anh diễn rất giống với balê hiện đại, chắc anh phải tốt nghiệp từ một trường múa quốc tế nào đó. Nhưng kỳ thực anh chẳng qua trường lớp nào trong nước chứ chưa dám nói đến nước ngoài.
Về chuyện dàn dựng, biên đạo múa, anh bật mí: “Tui đâu có học múa, nên hay tìm những hình ảnh chụp các tư thế trong biểu diễn nghệ thuật. Khi tập kêu các con đứng thế, rồi đánh số, hay đặt tên riêng, cứ sưu tập từng động tác như vậy rồi ghép lại thành một bài diễn hoàn chỉnh, đơn giản như lấy từng cục gạch xây tường vậy thôi”.
Mỗi nhân vật trong lò xiếc của anh Dự, cứ như từ cổ tích bước ra, anh đưa từng “cô bé lọ lem” hè phố trở thành ngôi sao trên sân khấu. Rồi nhiều lắm những học trò ưu tú rũ áo ra đi, vài năm sau lại ôm con rơi trở về nương tựa vào anh, đứa vướng vào ma tuý, HIV, cũng tìm về xin anh cưu mang, giúp đỡ… Anh lại mở rộng vòng tay đón nhận, nhưng buồn rầu: “Dạy học trò thành tài, nhưng lại không giữ được nó…” |
Nốt trầm của đời nghề
Sau chuyến lưu diễn Liên Xô, các nước như Tiệp, cả Pháp cũng liên tục gởi giấy mời, nhưng cha con anh Dự không thể đi trình diễn được.
Nghề xiếc thành danh, cha con anh được liệt vào những tài năng của đất nước, cần quan tâm, tránh bị kẻ xấu lôi kéo, dụ dỗ ra nước ngoài. Phía Bắc lúc ấy cũng có trường hợp đoàn xiếc đi biểu diễn nước ngoài năm người, khi về chỉ có ba vì hai trốn ở lại. Đó là lý do khiến cha con anh lỡ hẹn với nhiều cuộc lưu diễn quốc tế.
Các giải xiếc trong nước, mỗi lần cha con anh thi tài đều không có đối thủ. Trong một lần dự giải xiếc toàn quốc tại Hà Nội 1989, cha con anh bị ban giám khảo xử ép quá lộ liễu. Anh thất vọng, kéo cả gia đình về lại Sài Gòn, đoạn tuyệt với nghề xiếc mà anh đam mê.
Và trở lại
Đến 1995, có dịp anh Dự vào thăm một trung tâm nuôi dạy trẻ bụi đời, nhìn các em mỗi đứa mỗi hoàn cảnh, anh xúc động: “Tui thương cái mụt ghẻ, be sườn, những vết sẹo giang hồ trên mình những đứa bé trông thật tội nghiệp, tui nghĩ mình phải làm một điều gì đó giúp những mảnh đời này”. Và nghề xiếc được anh nghĩ đến, đem ngón nghề bỏ xó dạy cho các học trò nhỏ, đứa nào cũng phấn khích theo học. Nỗi bực tức xưa kia được anh Dự rũ bỏ, anh lập nhóm xiếc với tên gọi Bụi Hồng (1995) cho các em nhỏ bất hạnh, mồ côi, khuyết tật…
Anh Dự trịnh trọng lật từng tấm ảnh chụp hình học trò lưu diễn khắp nơi, đứa trước kia là ăn xin từ Nam Định vào, đứa tận Quảng Ngãi là dân bụi đời công viên 23.9, đứa chuyên móc túi người nước ngoài ở phố tây Đề Thám, đứa là cô bé ăn xin khiếm thị, sống bằng bát phở thừa của khách, có đứa lại câm điếc, dạy xiếc khó gấp bội lần… tất cả học trò anh đứa nào cũng lai lịch đầy xương xẩu như thế. Nhưng qua nghề xiếc, anh lần lượt đưa chúng thành những nghệ sĩ tài ba với các trò diễn patin, thăng bằng dây, xe đạp dây, lắc vòng, thăng bằng xe hai bánh…
Căn nhà nhỏ của anh lỉnh kỉnh dụng cụ từ trước ra sau toàn phục vụ nghề xiếc, các con anh là nghệ sĩ nổi danh một thời ngày trước giờ cũng lui vào hậu trường, sản xuất dụng cụ biểu diễn, may quần áo biểu diễn không chỉ cho nhóm Bụi Hồng mà cho cả những nhóm xiếc khác của thành phố. Quay lại với nghề, tấm huy chương cao quý nhất anh giành được chính là những hạt bụi đường phố được anh nhào nặn trở thành những cá nhân hữu ích cho đời.
Lam Phong