Nhật ký chiến trường và bảy lần chết hụt
SGTT.VN - Ngày cầm súng, đêm cầm bút, dù nhiều lần trúng bom, bảy lần chết hụt ở chiến trường nhưng người lính Đặng Sỹ Ngọc vẫn miệt mài với những trang nhật ký hào hùng và thấm đẫm nước mắt. Giờ đây, người thương binh già mang thương tật vĩnh viễn 81% vẫn chạy xe ôm kiếm tiền để xuất bản nhật ký chiến tranh, làm từ thiện và đi tìm đồng đội đã hy sinh.
|
Ông Ngọc rưng rưng nước mắt khi cầm những cuốn nhật ký chiến tranh đang dần mục nát.
|
Cuộc đời hoa lửa
Trong căn nhà nhỏ ở góc chợ Hưng Dũng, thành phố Vinh (Nghệ An), bằng giọng nói chầm chậm và đôi tai “nghễnh ngãng” vì sức ép của đạn bom, ông Đặng Sỹ Ngọc kể về cuộc đời chiến trường đầy bi tráng của mình. Sinh năm 1948 tại vùng quê nghèo xã Ân Phú, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh), ngay từ nhỏ, cậu bé Đặng Sỹ Ngọc đã học rất giỏi, mê thơ văn, thích viết lách. Là con trai độc nhất trong gia đình, Đặng Sỹ Ngọc thuộc diện được miễn nghĩa vụ quân sự nhưng tháng 8.1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước sang giai đoạn ác liệt, chàng thanh niên 18 tuổi đã viết quyết tâm thư bằng máu, xin được ra chiến trường. Tháng 3.1967, ông trở thành chiến sĩ của sư đoàn 324, chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị.
Hai tháng sau khi ra chiến trường, trong trận đánh đầu tiên vào tháng 5.1967, Đặng Sỹ Ngọc bị thương nặng tại đồi 56, huyện Gio Linh. Đơn vị cho Ngọc ra Bắc điều trị nhưng Ngọc nhất quyết không đi mà ở lại cùng anh em. Hai tháng sau, tại khu vực Cồn Tiên – Dốc Miếu, trong khi đang làm nhiệm vụ trinh sát, Ngọc trúng bom, bùn đất lấp nửa người. Đồng đội tìm thấy Ngọc trong tình trạng toàn thân đầy máu, ngưng thở. Nhưng như có phép nhiệm mầu, Ngọc vẫn khoẻ lại sau khi được sơ cứu tại chỗ.
Tháng 11.1967, đơn vị của Ngọc được giao nhiệm vụ áp tải đoàn xe chở đạn cối vào chiến trường. Khi đi đến đoạn Gio Linh, tổ công tác của Ngọc bị địch phục kích. Ngọc trúng đạn ở cánh tay, vết thương bị nhiễm trùng nặng, buộc phải ra Bắc điều trị. Trong những ngày này, Ngọc được kết nạp Đảng. Điều trị xong vết thương, Ngọc tiếp tục xin trở lại chiến trường và năm 1969, Ngọc được phân vào đơn vị pháo cao xạ thuộc trung đoàn 284 – sư đoàn 673. Ở mặt trận mới này, Đặng Sỹ Ngọc thêm bốn lần nữa suýt chết vì trúng bom của địch. Trong lần chết hụt thứ tư này, Ngọc bị thương nặng ở ổ bụng nên được đưa ra Hà Nội điều trị. Đó là năm 1972.
Sau tám lần phẫu thuật chân phải để lấy mảnh bom, đạn ra khỏi chân, Ngọc được xác định thương tật vĩnh viễn 81%, không thể trở lại chiến trường và phải có người chăm sóc, phục vụ. Trở về điều trị tại trạm điều dưỡng thương binh quân khu 4, Ngọc gặp lại Nguyễn Thị Vân, cô gái cùng trường năm xưa giờ đã trở thành một nữ điều dưỡng đẹp người đẹp nết. Năm 1975, họ tổ chức đám cưới. Sau đó, Ngọc xin rời khỏi trạm thương binh, trở về sống với vợ con. Chồng là thương binh nặng, lương của vợ ba cọc ba đồng ọp ẹp, không đủ để trang trải cuộc sống và nuôi ba người con ăn học, Ngọc đã quyết định chạy xe ôm kiếm sống. Ngày nắng cũng như mưa, từ hàng chục năm qua, hình ảnh người thương binh già với đôi tai điếc đặc cần mẫn chạy xe ôm đã trở thành quen thuộc với nhiều người dân khu vực phường Hưng Dũng.
| Sau những năm tháng chiến đấu trên chiến trường, ông Đặng Sỹ Ngọc nhận được hai huân chương kháng chiến hạng 2, 3, huân chương chiến sĩ vẻ vang, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, bằng khen của UBND tỉnh Nghệ An… |
Những mong ước cuối cùng
“Người lính ở chiến trường không tiếc máu xương thì ở thời bình cũng không được đầu hàng số phận”, ông Ngọc tâm sự. Mấy năm gần đây, khi không còn phải bươn chải chuyện áo cơm, toàn bộ số tiền kiếm được ông Ngọc cho vào một chiếc ống tre tiết kiệm. Thỉnh thoảng tiền các con gửi về cũng được ông cho vào chiếc ống. Khi ống đầy, ông lại bổ ra để làm lộ phí đi tìm mộ đồng đội và làm từ thiện. Trong đợt lũ lịch sử năm 2010, quê hương Vũ Quang của ông ngập chìm trong nước, hai vợ chồng ông bổ ống, mua gần 100 bộ quần áo mới cùng nhiều lúa gạo, mì tôm mang về quê cứu trợ cho người nghèo…
Bên cạnh một gia đình hạnh phúc, ấm êm, các con đều tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, thì điều mà ông Ngọc tự hào nhất là 19 tập nhật ký chiến tranh của mình. Năm 2006, nhà văn Đặng Vương Hưng đã biên soạn được ba cuốn, xuất bản thành sách nhật ký chiến tranh Trời xanh không biên giới thuộc tủ sách “Mãi mãi tuổi 20”. Hiện nay, cùng với những mảnh đạn pháo gắp ra từ cơ thể, tấm biển hiệu thu được từ một phi công Mỹ và những tấm huy hiệu, huy chương, bằng khen thì 16 cuốn nhật ký chiến trường viết tay vẫn được ông Ngọc nâng niu trân trọng như những tài sản lớn nhất của cuộc đời.
Cũng nhờ những dòng nhật ký, những đoạn ghi chép tỉ mỉ mà một mình ông Ngọc đã tìm được sáu ngôi mộ của đồng đội, năm ngôi mộ trong số đó đã được thân nhân các liệt sĩ đưa về quê an táng. Mỗi lần đi tìm mộ, ông Ngọc bổ ống tre, gom tiền rồi nhảy tàu vào Quảng Trị. Bất kể nắng mưa, giá rét, chỉ cần nhận được thông tin là ông Ngọc lên đường. Tất cả những lần cơm đùm cơm nắm đi tìm mộ, ông Ngọc đều giữ kín, kể cả với vợ con. “Giờ thì đã quen với cảnh ông Ngọc đi tìm mộ một mình nhưng nhớ lại lần đầu tiên ông ấy đi tìm đồng đội mà không báo cho ai, cả nhà lo lắng. Khi gia đình đang tá hoả, thắp hương cầu khấn thì nhận được điện thoại của ông ấy thông báo là đang đi tìm mộ đồng đội ở Quảng Trị”, bà Nguyễn Thị Vân vợ ông Ngọc kể lại. Đầu năm 2011, ông Ngọc tiếp tục lên đường tìm kiếm những đồng đội khác dựa vào những ghi chép của các cuốn nhật ký. Hiện nay, ông Ngọc đã xác định được vị trí chính xác ngôi mộ của liệt sĩ Nguyễn Văn Minh (quê ở xã Thanh Khê, huyện Thanh Liêm, Hà Nam) cũng là người anh kết nghĩa của ông khi ở chiến trường nhưng chưa tìm được thân nhân.
Bước sang tuổi 63, đôi tai đã điếc đặc, thỉnh thoảng những vết thương lại tái phát nhưng ông Ngọc vẫn miệt mài chạy xe ôm với tâm nguyện góp thêm được nhiều tiền để làm từ thiện, để đi tìm đồng đội và để xuất bản nốt 16 cuốn nhật ký chiến tranh còn lại của mình. Ông nói, nhật ký sẽ giúp cho thế hệ sau biết được sự khốc liệt của chiến tranh, sự quả cảm của những người lính cụ Hồ trên chiến trường.
bài và ảnh Bình Minh