“Kẻ lật đời” nơi con nước Lồ Ô
SGTT.VN - “Lũ làng ơi, ra mà coi thằng Đợi nó làm cái việc không phải của con người: con trâu, con bò dùng để cúng Yàng mà nó lại bắt kéo cày làm ruộng!” Tiếng kêu thoảng thốt của người làng Măng Đen khiến Đinh Xuân Đợi cũng... thảng thốt theo. Nhưng họ đâu ngờ, chính anh là người sẽ làm “cuộc cách mạng” trong nếp nghĩ cho người dân vùng đất hẻo lánh này…
|
Vợ chồng Đợi sau một ngày lao động.
|
“Cuộc cách mạng” bắt bò cày ruộng
Là cán bộ địa chính xã Sơn Hạ (huyện Sơn Hà – Quảng Ngãi), Đợi được uỷ ban xã giao việc chia đất cho dân làng. Chia thì dễ rồi nhưng làm sao để công bằng mới khó. Cái lý thì không cãi được nhưng một số người lại ấm ức: “Chỗ đất tốt ấy xưa kia là nơi ông bà ta phát rẫy, nay bỗng dưng thằng Đợi lại trao vào tay người khác”. Thế là họ ngấm ngầm bàn nhau bỏ thuốc độc “cho chết cái thằng làm mất đất ông bà ta đi”. Bị ngộ độc, có ngày Đợi nôn mửa, xỉu lên xỉu xuống cả chục lần. Người chị đang công tác trên huyện Kon Rẫy về thăm, xót em mới khuyên Đợi lên xã Dăk Rơ Ve – Kon Plong, Kon Tum sống… Tám năm đi bộ đội rồi trở về quê lấy vợ, tất cả gia tài chỉ có mỗi đôi bò. Bán đi thì tiếc, thuê xe chở thì không có tiền, vợ chồng quyết định dắt bò đi bộ. Quãng đường 150km, trong đó có đoạn vượt đèo Viôlăk quanh co dốc đứng. Từ đời ông bà chắc chỉ mỗi vợ chồng Đợi là dám làm cái chuyện dắt bò vượt Trường Sơn, vượt qua cả những ngày mưa rừng như trút nước, những đêm giá lạnh bụng đói như cào, ngủ dưới bụng bò giữa đường núi…
Đến nơi, chỉ nghỉ đúng có một ngày, Đợi đã vùng dậy đi tìm đất. Suốt cả tháng ròng, cho đến một hôm bước chân tình cờ đã đưa Đợi đến con nước Lồ Ô này. Một vùng đất rộng chưa ai khai phá, đầy hứa hẹn cho làm lúa nước và chăn nuôi.
Nói vậy nhưng đất mới khai phá kể sao hết gian nan… Ngày tiếp ngày, con gà mới xuống đất, vợ chồng Đợi đã quần quật lao động cho đến tối mịt. Cái lạ là mỗi lần Đợi dắt bò ra cày, người trong làng lại kéo ra nghiêng ngó. Đợi chột dạ nghĩ hay là mình làm phải đất cũ của họ? Cho đến một buổi sáng, toán người kia lại kéo đến. Già làng A Đoan bước lại gần Đợi nói:
- Từ đời ông bà, con trâu con bò về ở với người đều được đi chơi. Nay mày bắt nó kéo cày cực nhọc thế là mày chọc tức Yàng. Yàng mà nổi giận thì sẽ xui con ma rừng làm người ốm đau bệnh tật, làm cây lúa, cây bắp không đẻ được. Lũ làng không tha cho mày đâu nghe!
“Chuyện hoá ra là như thế”. Lúc đầu Đợi suýt phì cười nhưng nghĩ đây là tập quán ngàn đời của bà con Mơ Nâm, không phải chuyện đùa. Buông cày, Đợi tiến đến trước mặt già làng lễ phép nói:
- Thưa già làng, thưa bà con. Con trâu, con bò sinh ra là để giúp ích con người. Cả đất nước này từ người Kinh cho đến người H’rê, người Jrai đều bắt chúng kéo cày, kéo xe. Con người cũng phải làm việc mới có ăn thì sao con trâu, con bò lại được quyền đi chơi? Nếu Yàng nổi giận thì sao không phạt họ, phạt Đợi mà đi phạt bà con?
Trong đám đông có tiếng xì xầm. Đợi liền chỉ vào một thanh niên đứng gần mình hỏi:
- Như đám ruộng này thì anh cuốc mấy ngày ?
Người thanh niên liếc nhìn già làng rồi lúng búng: “Ba ngày”
- Đám ruộng này một thanh niên khoẻ phải cuốc mất ba ngày. Còn Đợi dùng bò cày chỉ mất không đầy một buổi. Cái cuốc ăn đất không kịp chính là nguyên nhân khiến bụng bà con đói đó.
Đám đông im phắc. Lúc lâu sau vẫn già làng A Đoan lên tiếng:
- Mày nói thế, bụng ta hãy biết thế. Nhưng nếu từ đây đến hết mùa rẫy mà làng ta có nhiều người đau ốm thì mày chịu đấy!
Một lần nữa trời lại thương Đợi. Gần nửa năm qua đi mà Măng Đen không ai đau ốm gì, trong khi đó những thửa ruộng của Đợi, lúa đã đến kỳ thu hoạch. Những tấm thảm rưng rức một màu vàng khiến ai đi qua cũng phải đứng lại nhìn… Một buổi tối, Đợi sắp đi ngủ thì bỗng có tiếng gọi cửa. Một thanh niên bước vào xưng tên là A Đoi, nói:
- Lâu nay mình vẫn muốn học Đợi bắt con bò kéo cày nhưng sợ. Bây giờ Đợi thắng rồi thì không sợ nữa. Ngày mai Đợi bày cho mình đi cày với con bò, được không?
“Một cơ hội để tuyên truyền không gì hơn thế”. Đợi vui vẻ nhận lời… Nghe tin có người học Đợi bắt con bò đi cày, cả làng kéo đi xem. Cuộc “diễn tập” thực hiện bằng chính đôi bò của Đợi. Vợ đi trước dắt bò, Đợi thì đi bên cạnh A Đoi kèm. Nắm cây cày, A Đoi run như vào chỗ tế thần. Đợi phải luôn miệng động viên. Sau vài lần chuệch choạc, đường cày A Đoi thẳng dần… “Người Mơ Nâm ta cũng biết bắt con bò cày ruộng được rồi!” Tiếng reo hò của đám thanh niên nổi lên vang động cả một góc rừng. Già làng A Đoan bước ra cầm tay Đợi nói: “Mày giỏi thiệt đó, Đợi. Mày đã làm cho cái đầu người Mơ Nâm ta sáng ra. Hãy đưa cái giỏi của mày cho nhiều người làng ta mượn nhé!”
Ấm no không chỉ riêng mình
… Từ một A Đoi, phong trào “bắt con bò cày ruộng” lan ra toàn Dăk Rơ Ve rồi rộng đến các xã xung quanh. Đó cũng là quãng thời gian Đinh Xuân Đợi trở thành “thầy” bất đắc dĩ cho mọi nhà. “Thầy” phải bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt nhất, như xỏ mũi trâu bò, làm cày, chuốt ách… Trâu bò của bà con thả hoang trong rừng nên con nào cũng dữ. Thuần hoá được chúng, bắt chúng phải chịu khuôn phép không chỉ nhọc nhằn mà còn cả nguy hiểm. Thế nhưng bất cứ ai ngỏ lời là Đợi đều vui vẻ giúp. “Không có đất lành, không có tấm lòng bà con thì mình đã chết rục xương ở quê rồi. Giúp được ai, dẫu chỉ việc nhỏ cũng là sự giải bày sự đùm bọc cưu mang”. Không chỉ dạy bà con biết dùng bò cày ruộng, làm nên “cuộc cách mạng” khởi đầu trong nếp nghĩ, Đinh Xuân Đợi còn mang đến vùng đất hẻo lánh này bao cái mới: dùng phân trâu bò bón ruộng, đào ao nuôi cá, làm thuỷ điện nhỏ đưa “Yàng điện” vào nhà…
Về phần mình, sau những chuỗi ngày lao động cần mẫn, Đinh Xuân Đợi đã có một cơ ngơi vào hàng nhất xã: đàn bò 13 con, ruộng nước hai vụ mỗi năm thu trên 10 tấn lúa… Rồi ao cá, vườn cây ăn quả. Trừ chi phí, mỗi năm vợ chồng thu lãi ròng hơn 70 triệu đồng. Đợi quả quyết chỉ một thời gian không xa nữa, cơ ngơi của anh sẽ là một trang trại quy mô, bề thế… “Tết này mình dự định sẽ mổ một con heo thật to để mời làng đến chung vui và tham quan trang trại. Bà con dân tộc chỉ tin vào những gì đã thành hiện thực. Người H’rê quê mình cũng vậy thôi”.
bài và ảnh: Ngọc Tấn