Giá trị sống
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
Lời thề của giới sử học
SGTT.VN - Ông là người may mắn được chạm tay vào những “trang sách đất” Hoàng thành Thăng Long, khám phá ra sự nghiệp lẫy lừng trên biển của vua Gia Long… và với góc độ chuyên gia Việt Nam học, ông khẳng định “Sử học đào tạo nên con người”. GS.TS Nguyễn Quang Ngọc hiện là chủ tịch hội Sử học Hà Nội, phó chủ tịch hội Khoa học lịch sử Việt Nam, viện trưởng viện Việt Nam học và khoa học phát triển – đại học Quốc gia Hà Nội.
Thưa giáo sư, dường như sự kiện Hoàng thành Thăng Long và hội thảo về triều Nguyễn đã giúp không khí trong giới sử học gần đây bớt trầm lắng?
Đúng là trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21, ngành sử đã có những thay đổi khá căn bản, đặc biệt là trên phương pháp tiếp cận và sự đáp ứng nhu cầu của đời sống thực tiễn đất nước. Lấy ví dụ trong quá trình chuẩn bị cho kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, giới sử học có khá nhiều đóng góp. Chỉ tính riêng ở Hà Nội thôi, có đến gần 50 cuốn sách của tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến, hàng chục hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế do các nhà sử học chủ trì. Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận di sản văn hoá thế giới cũng chủ yếu dựa trên thành tựu nghiên cứu của sử học.
Sự kiện mới nhất, là bộ Khoa học và công nghệ vừa tổ chức nghiệm thu đề án khoa học cấp Nhà nước về quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam bộ do GS.VS Phan Huy Lê, chủ tịch hội Khoa học lịch sử làm chủ nhiệm. Đề án đã làm sáng rõ toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nam bộ tính từ đầu Công nguyên đến nay, đặc biệt nhấn mạnh quá trình khai phá đất đai, xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trong guồng máy phát triển chung của lịch sử đất nước, khắc phục được trên căn bản cách nhìn phiến diện về lịch sử vùng đất Nam bộ và lịch sử Việt Nam trước đây.
Theo giáo sư, quan niệm làm sử, viết sử, nghiên cứu sử… cần thay đổi để thích ứng ra sao?
Thông thường, người ta nghiên cứu sử, phục dựng, xác lập những nhận thức khách quan gần với sự kiện lịch sử nhất, thế đã có thể coi là thành công. Với tôi, làm sử không chỉ là ghi lại, tái hiện lịch sử, mà còn là đúc kết bài học kinh nghiệm để phục vụ chiến lược phát triển. Có lẽ do yêu cầu công việc tại viện Việt Nam học và khoa học phát triển, mà cách nghiên cứu của tôi đòi hỏi phải tìm ra các bài học lịch sử, các giá trị lịch sử với tư cách như những nguồn lực phát triển. Chúng tôi đã và đang triển khai nhiều dự án, đề tài nghiên cứu theo hướng này. Ví dụ, làm địa chí Cổ Loa, địa chí Đông Anh là để đi sâu nghiên cứu địa lý lịch sử, văn hoá… từ đó tìm ra bài toán phát triển cho vùng đất đang đô thị hoá mạnh mẽ. Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đại học Quốc gia TP.HCM và viện chúng tôi cũng vừa hợp tác xây dựng chương trình Nghiên cứu tổng hợp điều kiện tự nhiên xã hội và giá trị lịch sử, văn hoá phục vụ phát triển bền vững khu vực huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Sẽ triển khai nghiên cứu toàn bộ quá khứ và các giá trị di sản để phục vụ phát triển bền vững một không gian xã hội – văn hoá rất điển hình ở Tây Nam bộ. Bảo tồn di tích lịch sử – văn hoá không có nghĩa chỉ thuần tuý lưu giữ những cái cũ, mà phải tính toán thật cụ thể, chính xác lưu giữ những gì, lưu giữ như thế nào và quan trọng hơn cả là phục vụ cho phát triển ra sao. Muốn thế, phải tính hết, tính đúng, tính đủ các nguồn lực, những mối quan hệ và tác động bên trong, bên ngoài nhằm xử lý được mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.
|
Dân chủ trong khoa học là cơ sở quan trọng nhất của một môi trường học thuật lành mạnh, mà môi trường học thuật lành mạnh là điều kiện cần thiết nhất cho sáng tạo và phát triển khoa học.
|
Thực tế vẫn cho thấy bảo tồn không đúng cách là đối lập với phát triển?
Hoàn toàn đúng. Bảo tồn tràn lan thì cản trở phát triển và phát triển tuỳ tiện thì huỷ hoại bảo tồn, và cuối cùng sẽ chẳng còn gì để phát triển nữa! Vấn đề là chúng ta phải biết gìn giữ những gì tổ tiên để lại, những giá trị mà tiền nhiều đến mấy cũng không thể mua được. Di sản và giá trị di sản tác động đến sự phát triển theo cách riêng của nó. Nó là hiện vật sống, phục vụ du lịch, nghiên cứu, giúp nhận diện, đánh giá, phát huy nguồn lực truyền thống… và rất có ý nghĩa cho đời sống thực tại cũng như tương lai. Nếu biết cách giải bài toán này, thì bảo tồn và phát triển không những không mâu thuẫn, mà còn thúc đẩy lẫn nhau; xét cho cùng bảo tồn chính là để phát triển bền vững.
Điều gì khiến ông luôn tin vào sức mạnh của “nguồn lực lịch sử”?
Tôi có những thuận lợi nhất định từ hoạt động nghiên cứu, lại có cơ hội được đi nhiều nơi, quan sát cách người ta đối xử với di sản… và có cảm giác ở các nước phát triển (châu Âu hay Nhật Bản chẳng hạn), họ rất chăm chút, chắt chiu các giá trị truyền thống, những di sản của tổ tông. Ngay như Trung Quốc gần đây thôi, sau bài học cay đắng của sự tàn phá di sản thời kỳ Cách mạng văn hoá, giờ người ta đang tìm mọi cách khắc phục, nhằm lấy lại những gì đã mất. Ta hiện có cả bài học thành công lẫn không thành công, bài học trong nước lẫn bài học quốc tế. Theo tôi, bài học lịch sử nào cũng quý giá, không giúp ta thành công hơn, thì cũng không để ta lặp lại thất bại...
Thưa ông, sử sách nước nào cũng để lại ít nhiều nghi vấn, và con người hiện đại hoàn toàn có quyền đòi hỏi vai trò phản biện của các nhà sử học trước thực tại lịch sử!
Chức năng phản biện rất quan trọng và ngày càng quan trọng đối với người làm sử. Quay lại câu chuyện Hoàng thành Thăng Long, sau khi phát hiện được các dấu tích tiêu biểu, mặc dù đã có chủ trương xây nhà Quốc hội và trung tâm Hội nghị quốc gia trên đó, nhưng các nhà sử học có trách nhiệm với đất nước, đã rất tâm huyết, tích cực có tiếng nói phản biện.
Đã làm khoa học, nhất là khoa học lịch sử thì tiêu chí hàng đầu bao giờ cũng là sự thật khách quan, phải trung thực và mặc nhiên phải có bản lĩnh của người làm khoa học. Tôi nhớ cách đây gần chục năm, khi được phân công làm chủ nhiệm đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước biên soạn bộ sách Lịch sử Việt Nam bốn tập, tôi có tổ chức một cuộc hội thảo về phương pháp biên soạn. Khi đó cố GS Trần Quốc Vượng đưa ra một thông điệp: “Nếu có một lời thề chung cho các nhà sử học, thì theo tôi, nên là: trung thực và dũng cảm”. Tôi vừa hay tin hội đồng giải thưởng Hồ Chí Minh cấp Nhà nước đã bỏ phiếu 100% cho cụm công trình về lịch sử – văn hoá của cố GS Trần Quốc Vượng. Phải chăng đấy là sự đánh giá rất cao của Đảng và Nhà nước, của đất nước và nhân dân, không chỉ với riêng cố GS Trần Quốc Vượng, mà còn với các nhà sử học, các công trình sử học chân chính và đỉnh cao, thực sự trung thực và dũng cảm.
|
PGS.TS Võ Văn Sen, chủ tịch hội Khoa học lịch sử TP.HCM:
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc thuộc thế hệ những học trò xuất sắc của GS Phan Huy Lê, cây đại thụ của nền sử học Việt Nam, luôn kết hợp được những thế mạnh truyền thống của sử học Việt Nam với những đổi mới của sử học thế giới. Việc vận dụng phương pháp liên ngành, “đa bộ môn” trong những nghiên cứu sử học, khu vực học của anh có thể nói đã đạt trình độ mẫu mực. Thường xuyên xuất hiện ở những diễn đàn học thuật thế giới có liên quan đến Việt Nam học, qua đó anh đã và đang trở thành một trong những người quảng bá Việt Nam học hữu hiệu nhất với giới học thuật quốc tế.
Nghiên cứu sinh Trần Hồng Nhung, giảng viên đại học Luật Hà Nội:
Tôi may mắn được làm học trò thầy Ngọc từ đại học đến cao học. Cách truyền đạt kiến thức và phương pháp nghiên cứu của thầy rất khoa học nên giúp ích cho tôi rất nhiều. Dù bận rộn đến mấy nhưng nếu chúng tôi có vướng mắc gì cần hỏi thì thầy luôn giải đáp, chỉ bảo tận tình. Thầy chính là một hình ảnh đẹp trong đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học Việt Nam.
|
Một vấn đề liên quan, đó là không khí dân chủ trong khoa học, thưa ông...
Đúng vậy, tôi cho dân chủ trong khoa học là cơ sở quan trọng nhất của một môi trường học thuật lành mạnh, mà môi trường học thuật lành mạnh là điều kiện cần thiết nhất cho sáng tạo và phát triển khoa học. Phải hình thành cơ chế lắng nghe và biết nghe ý kiến các nhà khoa học, cả những ý kiến thuận chiều và trái chiều, cả những ý kiến đúng và thậm chí chưa đúng. Nhìn một cách đại thể, chúng ta chưa thực sự quan tâm và ít chú ý đến việc tạo ra được những môi trường học thuật có đủ điều kiện liên kết các cá nhân phát huy cao độ năng lực chuyên môn của họ. Phải được tắm mình trong một môi trường học thuật đích thực thì cá nhân các nhà khoa học mới có khả năng vươn tới đỉnh cao, và từ đó thúc đẩy sự phát triển của môi trường học thuật cao hơn, dân chủ và lành mạnh hơn.
Sau 40 năm gắn bó với công tác nghiên cứu lịch sử, ông nghĩ thế nào về câu nói bất hủ của Galilê: “Dù sao trái đất vẫn quay”?
Gần đây, tôi có trả lời phỏng vấn trên một tờ báo rằng “Gia Long là vị vua có một sự nghiệp lẫy lừng trên biển”. Lâu nay người ta chỉ biết vua Gia Long – Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà”, chứ có ai nói đến “sự nghiệp lẫy lừng” của ông đâu. Tôi cám ơn tất cả các ý kiến phản biện đã không chỉ giúp tôi trở lại ngọn nguồn của vấn đề, mà còn tạo cơ hội cho tôi được trình bày một cách đầy đủ và hệ thống quan niệm của mình. Theo tôi, Nguyễn Ánh đành rằng phải chịu trách nhiệm hết sức nặng nề trước lịch sử vì đã từng rước quân ngoại bang về dày xéo bờ cõi, nhưng ông là người có tài cầm quân, có tài tổ chức và tập hợp dân chúng, thừa hưởng được những thành quả của các thế hệ cha ông và của cả Tây Sơn nữa, nếm mật nằm gai mở cõi và định cõi, làm nên một nước Việt Nam thống nhất, rộng dài và trọn vẹn như ngày hôm nay. Người làm sử không thể vì những định kiến có sẵn mà phớt lờ hay phủ định sự nghiệp này của ông. Nói thì có vẻ dễ đấy, nhưng để nhận ra được điều này, với tôi cũng phải mất đến hơn 40 năm, tính từ những ngày đầu tiên bước chân vào học khoa lịch sử trường đại học Tổng hợp Hà Nội.
Cũng cần phải nói thêm là trong khoa học, sai sót là chuyện hết sức bình thường. Vấn đề chỉ là có sớm nhận ra được cái sai và quan trọng hơn là có dám sửa chữa không thôi, vì khoa học chính là một sự sửa sai không ngừng.
Là thầy của nhiều thế hệ học trò, nhưng trước mênh mông lịch sử, những nhân vật, sự kiện, tư liệu… ông nghĩ thế nào về vai trò của mình?
Tôi làm lịch sử cổ trung đại Việt Nam, quan trọng nhất là nguồn thư tịch, nên buộc phải học chữ Hán, chữ Nôm… Nhưng nếu làm sử mà chỉ dựa vào thư tịch thì không đủ vì lịch sử phát triển thiên hình vạn trạng. Khi khai quật Hoàng thành Thăng Long, tôi mới có cơ hội được “đọc” trang sách đất và nhận ra các dấu ấn lịch sử nằm trong các tầng văn hoá đó. Nếu chỉ dựa vào nguồn thư tịch cổ, làm sao tôi biết những điều này? Nguồn tư liệu dân gian truyền miệng cũng hết sức phong phú, nhưng phải nói đây là nguồn tư liệu vô cùng phức tạp cần phải được giám định chặt chẽ, nghiêm túc trước khi sử dụng. Rồi tư liệu trong nước, ngoài nước... Tôi ủng hộ quan điểm nghiên cứu lịch sử vừa phải đi vào chuyên sâu bằng các phương pháp chuyên ngành đặc trưng, vừa phải mở rộng nghiên cứu tổng hợp, liên ngành; người làm sử phải đóng nhiều vai, bằng mọi cách, mọi phương tiện, để tiếp cận, khai thác triệt để các nguồn tư liệu và có cái nhìn hệ thống, toàn diện, càng ngày càng tiệm cận chân lý lịch sử.
Điều thú vị nhất ông nhận được từ công việc nghiên cứu về Việt Nam học và khoa học phát triển?
Ban đầu, nhiều người không biết Việt Nam học là gì, cho tất cả mọi thứ ở trên đất Việt Nam đều là đối tượng của Việt Nam học. Nếu dưới góc độ học thuật thì đây là một ngành quốc học Việt Nam, có nguồn gốc lâu đời và thực sự phát triển trong khoảng một phần tư thế kỷ lại đây. Một ngành học có tính tổng hợp và liên ngành về đất nước và con người Việt Nam, đòi hỏi việc nghiên cứu phải tổng thể và liên ngành khi đi vào các không gian xã hội – văn hoá cụ thể, rồi rút ra những giá trị đặc trưng phục vụ xây dựng các mô hình, chiến lược phát triển. Thú vị nhất là khi triển khai nghiên cứu theo hướng này, chúng tôi có điều kiện vận dụng hết mọi khả năng, phương pháp mình có, để có những nhận thức mới…
Khoa học lịch sử, hay Việt Nam học, cũng chính là khoa học về con người. Ông nhìn nhận điều này ra sao trong tinh thần “khoa học phát triển”?
Một xã hội phát triển, văn minh, thì nghiên cứu lịch sử phải được coi là một khoa học có vị trí rất quan trọng. Trong số các ngành khoa học xã hội thì sử học có vai trò số một góp phần hình thành nhân cách, bản lĩnh, trí tuệ của con người. Sự khéo léo, tài năng trong việc vận dụng những giá trị văn hoá lịch sử vào đào tạo có thể tạo nên những con người với cốt cách riêng của họ. Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, nguồn lực con người là quan trọng nhất. Đừng nghĩ rằng có lắm tài nguyên, được thiên nhiên ưu đãi mà có điều kiện phát triển hơn những nơi khô cằn, điều kiện tự nhiên khó khăn. Tất nhiên, khi con người biết cách vươn lên, thì lúc đó họ mới thực sự là nguồn lực mạnh nhất của phát triển. Về sâu xa, phải thấy rằng đầu tư cho con người, chính là kích thích nguồn lực để phát triển. Và như thế, càng ngày sử học càng có vai trò cực kỳ quan trọng.
Dù vậy, trong các trường học hiện nay, việc dạy sử, học sử, cũng như kiến thức về lịch sử của thế hệ trẻ… đang có nhiều vấn đề. Có vẻ như nguồn nhân lực của chúng ta coi việc học là để nhìn về tương lai hơn là học để biết mình là ai!
|
Người làm sử phải đóng nhiều vai, bằng mọi cách, mọi phương tiện, để tiếp cận, khai thác triệt để các nguồn tư liệu và có cái nhìn hệ thống, toàn diện, càng ngày càng tiệm cận chân lý lịch sử.
|
Năm 1942, Bác Hồ mới về đến biên giới Cao Bằng đã viết Lịch sử nước ta. Hơn ai hết, Bác đã nhìn ra được nguyên lý của phát triển, giác ngộ ra điều đó sau khi đã học hỏi, chắt chiu kinh nghiệm của phương Đông và phương Tây, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Học sử để hiểu về con người, về văn hoá, xã hội, rút ra các kinh nghiệm lịch sử, bài học lịch sử và tuỳ từng hoàn cảnh lịch sử, thời kỳ lịch sử cụ thể mà khai thác, vận dụng. Điều đáng sợ là những người không hiểu biết đến nơi đến chốn, mạo nhận lịch sử và xuyên tạc lịch sử theo hiểu biết hay ý muốn chủ quan của mình. Trái lại, nếu thực hiểu và thực thấm lịch sử văn hoá dân tộc thì dù có đi đâu, ở đâu, sống trong môi trường, hoàn cảnh nào, người ta cũng không dễ dàng đánh mất bản sắc. Tôi cho vấn đề dạy sử và học sử hiện nay phải được nghiên cứu và bàn thảo một cách nghiêm túc, nhưng quan trọng hơn cả là cần có một nhận thức đúng về vai trò và vị trí của sử học trong tương lai phát triển của đất nước. Cần lưu ý Bác Hồ nói “dân ta phải biết sử ta” là không trừ ai, nhất là các nhà lãnh đạo vì càng là lãnh đạo thì càng phải biết sử tường tận.
Tinh thần lạc quan, thái độ sống tích cực toát lên ở ông, rất khác với sự đăm chiêu, khắc khổ thường thấy ở nhiều nhà nghiên cứu xã hội…
Phải nói thật là tôi thích nghiên cứu, giảng dạy và đọc sách lịch sử. Có thêm một sản phẩm nghiên cứu hay kết quả đào tạo mới là có thêm niềm vui, thêm một việc làm có ý nghĩa. Nói vậy, chứ không ít những việc hàng ngày tác động khiến mình buồn tủi và nản chí. Nhưng rồi lại bị công việc cuốn hút vào và đôi khi cũng phải tự an ủi rằng: việc ta ta làm, đường ta ta đi và đã đi ra đường rồi thì chớ ngại chông gai!
thực hiện Kim Hoa
chân dung hội hoạ Hoàng Tường