Giá trị sống
Nhà biên kịch điện ảnh Trịnh Thanh Nhã
Rung lục lạc đánh động lương tri
SGTT.VN - Sắc sảo, thẳng thắn và quyết liệt, đó là Trịnh Thanh Nhã trong công việc. Còn có một Trịnh Thanh Nhã khác, tâm huyết với những vẻ đẹp lặng lẽ đời thường, tiếp tục hướng ngòi bút vào những vấn đề cụ thể, thiết thực của đời sống hôm nay trên lãnh địa truyền hình.
Tại hội nghị “Cứu nguy cho điện ảnh” tổ chức cuối tháng 9 vừa rồi, chị đã khiến nhiều người bị sốc khi đưa ra nhận định: “Điện ảnh Việt Nam đang rơi xuống… dưới đáy”. Liệu nói vậy có quá nặng lời không, thưa chị?
Không. Tôi thấy cần phải nói thêm rằng điện ảnh Việt Nam hiện đang… rơi tự do! Bản thân tôi từng là xưởng trưởng một xưởng sản xuất của hãng phim truyện Việt Nam, dự toán và xin kinh phí thì hội đồng duyệt phim luôn chỉ được cấp 70% dự toán. Tiền đưa vào làm phim thật ra cũng chỉ chiếm 70% kinh phí được cấp do phải trích lại trả lương cho những người không đi làm phim, còn đang ở hãng hàng ngày, chưa kể rơi rớt trong quá trình làm phim. Đến khi phim ra đời chỉ đạt 30% chất lượng nghệ thuật so với tiêu chí ban đầu đặt ra. Con số 30% này là con số chết của ngành điện ảnh. Đây cũng là lý do tôi không thể lo nổi đời sống cho anh em trong xưởng, tự thấy xấu hổ nên phải xin về hưu non!
Điện ảnh đã qua rất nhiều kỳ “chấn hưng” rồi lại “chấn hưng”, và bây giờ thì đến “cứu nguy”. Chị có thấy xót cho nghề mình đã chọn?
Nhiều vấn đề của điện ảnh, lâu nay hầu như không được cải thiện. Tôi xót xa lắm chứ, khi thấy những gì làm nên nền tảng cho cái đáy ấy, đã và đang tiếp tục bị xói lở, ví dụ cảm hứng sáng tác. Điều này thật sự rất nguy hiểm, khi người sáng tác đánh mất lòng tin ở chính mình, chẳng biết đúng sai thế nào nữa; rồi khi phim đem ra chiếu bị đánh tơi bời và nghệ sĩ là người phải chịu trận đầu tiên… Ngoài ra, là không khí làm việc quá nhiều bất cập, trước hết là những bất cập về điều kiện vật chất, cơ chế…
Thật lòng mà nói, gần đây khi sang làm chương trình truyền hình, một chương trình nhân đạo cho nông dân mang tên Lục lạc vàng, tôi thấy mình tử tế hơn, trong trẻo lên, ấy vậy mà trở lại đề cập những vấn đề trong nghề chính của mình, tôi lại chỉ muốn nổi giận, đầu óc chỉ chực “nổ tung”! Vấn đề ở đây là: Nhà nước có cần ngành điện ảnh nữa hay không? Nếu Nhà nước cần thì mọi chuyện sẽ được giải quyết, thậm chí là rất nhanh chóng. Những người làm điện ảnh chúng tôi đang chờ câu trả lời đó.
Và trong lúc chờ đợi, một chương trình truyền hình xã hội hoá dành cho nông dân đã khiến nhà biên kịch điện ảnh tìm thấy hứng thú?
|
Trịnh Thanh Nhã tốt nghiệp khoa ngữ văn đại học Tổng hợp (nay là đại học KHXH&NV Hà Nội) năm 1981. Năm 1983 gia nhập làng điện ảnh. Năm 1988, giải biên kịch xuất sắc Liên hoan phim 8 cho phim Chuyện cổ tích cho tuổi 17. Đến năm 1999 đã có bảy kịch bản phim truyện nhựa được sản xuất, và vài trăm tập kịch bản phim truyền hình. Hiện giữ vai trò điều hành một công ty chế tác kịch bản và cố vấn chương trình Lục lạc vàng phát trên VTV1.
|
Ở góc độ làm nghề, tôi thấy khái niệm “xã hội hoá” đang được sử dụng một cách méo mó, thậm chí bị coi là một “cơ hội làm tiền” của các doanh nghiệp truyền thông, khiến màn hình bị rẻ rúng hoá. Tôi ủng hộ Lasta – nhà tài trợ sáng lập, vì mục tiêu từ thiện đặt lên hàng đầu, mục đích kinh doanh quảng cáo chỉ là thứ yếu. Không phải chương trình xã hội hoá nào cũng làm được như vậy. Hơn nữa, đây là một chương trình thuần Việt, không mua format của nước ngoài như hầu hết các chương trình truyền hình khác. Một điều cảm động nữa đã cuốn hút tôi: êkíp làm chương trình trẻ, nhiệt tình, không nề hà việc khó, không sợ vất vả. Vấn đề hiện nay của chúng tôi là chất lượng chương trình và hiệu quả xã hội của nó: đó là lợi ích cho người nghèo và sự đánh động lương tri xã hội!
Chị nghĩ thế nào khi không ít người xem bực mình vì nhiều bộ phim xã hội hoá chất lượng kém đã làm uổng phí “giờ vàng” trên màn ảnh nhỏ?
Nói một cách khách quan thì gần đây trên sóng đã có một vài phim làm khá cẩn thận, tử tế, bằng cách xã hội hoá mà có. Vậy thì phải thấy làm phim tử tế thì sẽ có nhiều quảng cáo. Tại sao không làm phim tử tế để không phụ nghề mà lợi nhuận vẫn đảm bảo? Tôi nghĩ, kinh doanh văn hoá không thể với một thái độ thiếu văn hoá. Có thể đây chính là một khiếm khuyết lớn trong quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá chăng? Cho nên, thấy giờ vàng mà chiếu phim dở, tôi cũng lấy làm tiếc lắm. Cũng đồng tiền đổ ra mà chất lượng phim không đạt, thậm chí còn tác động xấu, làm xuống cấp tinh thần, đạo đức xã hội… thì làm để làm gì. Lẽ ra, chọn người làm xã hội hoá phải trên ý thức “làm để làm gì” và lợi ích xã hội phải được đặt lên trên hết.
Chỉ vì “mỗi tuần cứ nghĩ đến sáu hộ nông dân nghèo sẽ được bò” nên vất vả mấy chị cũng không bỏ cuộc, để thành một “nhà báo tay ngang” trên truyền hình?
Đúng thế. Đó là lý do hiện nay hàng tuần tôi vẫn liên tục có mặt trực tiếp ở hiện trường với đoàn, tức là “làm quá” so với vai trò một cố vấn chương trình. Thực ra, chuyện đưa bò cho nông dân nghèo nhiều nơi, nhiều tổ chức đã làm lâu nay, nhưng làm gì để hình ảnh người nghèo sẽ gây được những cái “giật mình” của ai đó, những người may mắn nào đó, trước một bộ phận bà con nông dân đang sống trong sự nghèo đói cùng cực, thì đó chính là “tiếng rung” của Lục lạc vàng! Phải đánh thức lương tri xã hội, vì nhiều người đang “ngủ quên” trong bình yên và những tiện nghi đầy đủ, trong khi nhiều bà con đang vật lộn với từng miếng ăn, từng tấm áo…
Cái được lớn nhất chị nhận được từ những chuyến đi là gì?
|
NS ưu tú Bùi Cường:
“Trịnh Thanh Nhã là một biên kịch giỏi và có cá tính. Lời thoại trong kịch bản của chị rất dí dỏm. Tôi đã từng cộng tác làm phim với chị và thấy đó là một người đáng tin cậy, làm việc cùng chị tôi rất yên tâm. Ngoài công việc, chị là một người bạn rất thẳng thắn, trung thực và chân thành”.
Phó GS.TS Lưu Khánh Thơ:
“Tôi đặc biệt có ấn tượng về Trịnh Thanh Nhã: một phụ nữ làm nghệ thuật đa đoan, chịu nhiều va đập trong đời thực, đã trải qua những giằng co, sự đan xen giữa những giá trị truyền thống với một tính cách “nổi loạn”, nhưng cuối cùng vẫn giữ được sự trong trẻo ở những cảm xúc, những ký ức đẹp đẽ trên trang viết. Trong đời thường, Nhã đã là một phụ nữ thực tế, bươn chải. Cuộc sống đã không làm phai bạc đi những gì Nhã đã có”.
|
Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống, cho bò là cách giúp người nghèo thoát nghèo bền vững, về lâu dài còn mang lại hệ quả kép, giúp phát triển đàn đại gia súc cả nước. Chỉ cần nghe một cô bé lớp 9 khoe được khán giả tài trợ tiền học cho em hàng tháng sau khi chương trình về em phát sóng, nên em không rơi vào cảnh phải bỏ học đi làm thuê; một chú bé nghèo học giỏi được nhận dạy nâng cao miễn phí; hay một cái tin nhắn nhỏ về việc “bò ông X. đã đẻ bê”, “bò anh N. có bầu một tháng”… là cả đoàn chúng tôi mừng như bắt được vàng. Điều đó khiến tôi vui sống hơn. Niềm vui của người khác, khiến tôi tự thấy bao nhiêu khó khăn, bi kịch trong đời thực ra chỉ là phù du…
Đã làm khá nhiều phim truyền hình về đề tài nông dân và nông thôn, về trẻ mồ côi… nay tham gia làm truyền hình nhân đạo, hẳn công việc hiện nay cũng như “bước đệm” cần thiết đối với một người xuất thân từ điện ảnh như chị?
Có thể. Vì tôi đã từng làm phim truyện, phim tài liệu, từng đứng trên bục giảng, nên tôi không những không thấy lúng túng mà còn tự tin vì mình đã có đủ “vốn” cần thiết. Người nông dân mà tôi biết, nước mắt của họ thường lặn vào trong, họ gần như đã chai lì về cuộc sống đói khổ mà họ đang phải chịu đựng. Họ giống nhau vô cùng ở cái nhìn ngơ ngác bên ngoài. Những bất hạnh mà họ phải đối mặt cũng có vẻ giống nhau: chồng chết, chồng bệnh, con tật nguyền, thất học, làm ăn thất bát… nhưng sau những biến cố đó là gì? Quan sát chương trình một cách có hệ thống, tôi thấy một loạt những nhân vật trẻ thơ với gương mặt đáng yêu, tươi tắn. Vì sao chúng vẫn giữ được vẻ đẹp trăng rằm, vẫn học giỏi ngay trong hoàn cảnh khốn khổ của cuộc sống thực, nếu cha mẹ và xã hội quay lưng lại với chúng?
Phải thấy được đó là kết quả trước hết của sự nỗ lực của các bậc sinh thành ra chúng, là thái độ không buông tay, không chịu cúi đầu trước số phận của một bộ phận người nghèo. Thế mà, vẫn có những người giàu không chỉ dửng dưng, lãnh cảm, mà còn cười trên nước mắt của người nghèo…
Với con mắt của người làm điện ảnh, chị đã nhìn thấy “nhân vật” cho phim của mình chưa?
Đúng là, tôi cũng đang “âm mưu” làm phim về những người làm chương trình nhân đạo và sự biến đổi của họ do chính chương trình mang lại… Rất thú vị, những người làm truyền hình nhân đạo phần lớn là người trẻ tuổi, mới bắt đầu vào nghề. Sự sòng phẳng ở họ cứ rơi rụng dần, thay bằng một xu hướng thiện nguyện, một sự biến đổi dần dần, tự giác… Những trải nghiệm trực tiếp, hàng ngày đã tác động vào họ, khiến trái tim họ không thể chai lì. Vấn đề là khoảng cách giữa họ và người nghèo đã không còn như trước khi người ta không chọn cách đóng cửa trái tim mình. Hoặc những người nghèo. Họ cần được tôn vinh bởi tinh thần quật cường, vươn lên không mệt mỏi. Tôi cũng có dự tính sẽ làm một series phim tài liệu về đề tài này.
Câu hỏi nhân ngày 20.10 sắp tới: chị có thể cảm nhận và chia sẻ những áp lực khi người phụ nữ chọn nghề làm báo?
Sự xông xáo của họ luôn có giới hạn. Và thời gian họ dành cho gia đình, chồng con cũng bị giới hạn so với nhiều nghề nghiệp khác. Khi đã chọn nghề này, thì không thể từ chối trách nhiệm, nghĩa là phải dấn thân, phải tự mình trải nghiệm cuộc sống, cảm nhận, quan sát, phân tích, từ đó đưa ra những quan điểm của mình thông qua tác phẩm báo chí. Lăn lộn, tiếp xúc với cuộc sống muôn màu chính là giúp họ thâm nhập được vào cuộc sống và trưởng thành trong nghề. Họ sẽ không sợ thiếu đề tài, tư liệu, điều đó sẽ khiến cho những tờ báo lá cải với những tin tức rẻ tiền tràn ngập như hiện nay phải thu nhỏ thị phần và bớt ảnh hưởng tiêu cực tới công chúng… Tôi thấy có quá nhiều những vấn đề của cuộc sống đang cần được phản ánh, đề cập một cách khách quan nhất, truyền cảm nhất!
Khi điện ảnh nước nhà rơi vào khủng hoảng, điều đó có gây áp lực lên đời sống riêng của chị?
Với điện ảnh, tôi đã tự coi là người ngoài cuộc lâu rồi, thỉnh thoảng nhớ đến, nhói lòng một chút, rồi lại lăn lóc vào những việc khác cấp bách hơn, vậy là lại tạm quên đi. Cùng lúc làm chủ nhiệm của hai lớp biên kịch thuộc hai trường đại học (đại học Sân khấu và điện ảnh Hà Nội, đại học Văn hoá nghệ thuật quân đội), dù không phải lúc nào cũng lên bục giảng, nhưng bài vở của học trò quá nhiều, mà lại là bài sáng tác, nên đôi lúc tôi cũng phải tự an ủi rằng cũng là “một cách cống hiến cho điện ảnh”, thế là lại cố, kể cả thức đến quá nửa đêm sửa bài cho học trò…
Bên cạnh chị là nhà văn Lê Phương, cuộc sống hiện tại đã giúp chị cảm nhận thế nào về hai chữ “gia đình”?
|
Phải đánh thức lương tri xã hội, vì nhiều người đang “ngủ quên” trong bình yên và những tiện nghi đầy đủ, trong khi nhiều bà con đang vật lộn với từng miếng ăn, từng tấm áo.
|
Khác với nhiều phụ nữ làm nghệ thuật, tôi có hạnh phúc khá trọn vẹn bởi sự đồng cảm của chồng – nhà văn Lê Phương – người thầy lớn trong nghề và trong đời. Gia đình là điều quan trọng nhất đối với hầu hết phụ nữ. Với tôi, nó là nơi trú ẩn, nơi nghỉ ngơi, nơi được an ủi sau rất nhiều gắng gỏi trong cuộc sống.
Hiện, tôi đang có một đại gia đình bao bọc mình. Tuy không sinh con, nhưng tôi có những đứa con nuôi rất dễ thương mà tôi yêu quý hơn cả bản thân mình. Chúng là những đứa trẻ nghèo, do duyên phận mà đến với tôi, và tôi dang tay che chở chúng, với tâm nguyện có lẽ trời đã muốn tôi làm việc đó. Nhà tôi có một cái tủ lạnh rất to. Mỗi đầu tuần tôi lại đi chợ, mua rất nhiều thực phẩm sơ chế, chứa vào ngăn cấp đông. Các con sẽ “đi chợ” trong tủ lạnh khi mẹ đi vắng. Rồi thỉnh thoảng bất ngờ có thời gian, lại... mời chồng đi càphê, hoặc bát phố để “nuôi dưỡng xúc cảm với nhau”, sợ một ngày ông chồng sẽ chán ngắt mình vì bị vợ bỏ rơi nhiều quá. Nhưng việc ấy hiếm lắm. Chồng con thông cảm về những bận bịu của mình nên “cho qua” nhiều, chứ không thì... gay! Tự ngắm lại mình, thấy “tội lỗi” vô cùng với chồng con. Chỉ cần thấy mỗi khi mẹ vào bếp cả mấy bố con sung sướng thế nào, đủ thấy mình có lỗi lớn rồi. Vốn ham bếp núc, mà gần chục năm trở lại đây tôi ít khi vào bếp lắm. Tội lỗi! Tội lỗi!
Đường tới hạnh phúc vốn gian nan lắm, phải không thưa chị?
Trong những thời khắc khó khăn nhất của cuộc sống, tôi đã thử sức mình qua rất nhiều nghề phụ: làm mứt, đan len, trang điểm cô dâu, đan đèn lồng bằng phim, nhuộm sơn bán mỗi dịp trung thu, mở quán càphê, thậm chí cùng một cô bạn thân bán… bún bò Huế. Thật thú vị là hầu như tôi chưa bao giờ thất bại trong những công việc làm thêm đó. Nó cho gia đình tôi một cuộc sống tạm ổn vào những lúc cả nước khó khăn chưa từng thấy. Nhưng còn hơn thế, nó cho tôi những cơ hội trải nghiệm và chiêm nghiệm không nhiều người có. Phụ nữ là thế, thích năng nhặt chặt bị. Tôi làm “chặt bị” của tôi bằng những góp nhặt từ quan sát hàng ngày, từ cuộc sống gian khó… và nhờ đó, hành trang sáng tạo của tôi dày lên từng ngày.
Bây giờ, trong vai trò cố vấn nội dung của chương trình Lục lạc vàng, tôi đang có những trải nghiệm mới, sâu lắng hơn, buồn hơn… và đôi khi nó cũng làm tôi mất ngủ. Nhưng có lẽ đó vẫn là câu chuyện của tâm trạng người phụ nữ trên đường đời và đường nghề. Càng hạnh phúc trong đại gia đình của mình bao nhiêu, tôi càng day dứt không nguôi về những cảnh đời còn đau khổ, nhọc nhằn bấy nhiêu…
thực hiện: Kim Hoa
chân dung hội hoạ: Hoàng Tường