Giá trị sống
Nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh: Tôi muốn là một con đò
SGTT.VN - Hôm nay 8.8, nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh được quỹ Hoàng thân Claus vì văn hoá và phát triển (Prince Claus Fund for Culture and Development) của vương quốc Hà Lan trao giải thưởng cho những sáng tạo mang tính khai phá và những cống hiến cho nghệ thuật đương đại.
Sang Mỹ định cư từ nhỏ, tốt nghiệp đại học Mỹ thuật California rồi trở về Việt Nam lập nghiệp năm 1993, hoạ sĩ Lê Quang Đỉnh ngoài là chủ nhân Sàn Art (quận Bình Thạnh TP.HCM), còn là đồng sáng lập tổ chức Nghệ thuật Việt Nam tại Los Angeles (Mỹ), thành viên ban điều hành quỹ Trao đổi và phát triển văn hoá Việt Nam – Đan Mạch. Những sáng tạo kết hợp giữa phương thức tạo hình hiện đại và kỹ thuật thủ công truyền thống Việt, tìm kiếm những mảnh vỡ của quá khứ đau thương để tạo dựng lại hơi thở của lịch sử hào hùng, đã tạo được tiếng vang trong giới nghệ thuật quốc tế, được nhiều bảo tàng thế giới tìm mua và trưng bày, nhưng anh vẫn sống thật lặng lẽ tại một khu dân cư nghèo ở quận 8.
Động lực nào giúp anh kiên trì theo đuổi đến cùng việc tạo một sân chơi phi lợi nhuận cho các hoạ sĩ đương đại Việt Nam như Sàn Art?
Với Sàn Art, tôi muốn tạo một không gian nghệ thuật mang tính thể nghiệm dành cho những người trẻ. Trường mỹ thuật hiện nay không dạy về mỹ thuật đương đại, cách giảng dạy còn lỗi thời, theo kiểu dạy của Pháp thời Đông Dương: chỉ cần vẽ giỏi là đủ. Nhưng nghệ thuật đương đại bên cạnh việc vẽ giỏi, phải hiểu biết sâu về mỹ thuật, văn hoá, để biết thế giới đang cần gì, những gì đang xảy ra trên thế giới. Trường đại học mỹ thuật trên thế giới luôn kết nối với các đại học khác, một sinh viên có thể học tất cả các môn như triết học, lịch sử, Phật giáo... để mở rộng tầm hiểu biết.
Khát khao của giới hoạ sĩ trẻ bây giờ là cơ hội học hỏi, sáng tác, để có thể nâng cao việc kết hợp giữa tay nghề và sự hiểu biết. Tôi muốn cho họ một chút thông tin, một không gian cho hoạ sĩ cùng trao đổi với những người đang làm mỹ thuật đương đại của Việt Nam và thế giới. Đến đây, các bạn không phải lo lắng tranh mình có bán được không, hay làm sao có tiền để trả việc thuê mướn triển lãm. Khi thoát khỏi sự lệ thuộc, lo lắng về tiền bạc, chất thể nghiệm, tìm tòi mới có khả năng bay bổng...
Mong muốn này cũng xuất phát từ chính cuộc đời tôi. Để có thành công hôm nay, tôi từng được những tổ chức phi lợi nhuận giúp đỡ, và tôi muốn là một con đò để giúp thế hệ sau có cơ hội như mình đã có. Đây gần như là một truyền thống trong giới hoạt động nghệ thuật quốc tế.
Tốt nghiệp khoa mỹ thuật đại học California, có chút tiếng vang qua triển lãm đầu tiên, tương lai đầy hứa hẹn với bằng master về nhiếp ảnh – mỹ thuật của School of Visual Art (New York) và việc giảng dạy tại một trường đại học, lý do gì thôi thúc anh trở về Việt Nam?
|
Tôi từng được những tổ chức phi lợi nhuận giúp đỡ, và tôi muốn là một con đò để giúp thế hệ sau có cơ hội như mình đã có.
|
Thời thơ ấu ở Việt Nam, tôi chỉ là một đứa trẻ, chiến tranh ập đến mà mình không có chút hiểu biết gì về nó. Tôi có rất nhiều điều thắc mắc về chiến tranh, rất nhiều điều muốn hỏi, nhưng không có quyền làm gì hết. Tôi muốn bằng nghệ thuật, giành lại sự hiểu biết ấy. Tôi tiếp nhận nền giáo dục Mỹ, cách làm việc phương Tây, nhưng các vấn đề trong tác phẩm của tôi thì luôn luôn là lịch sử Việt Nam. Tôi chịu ảnh hưởng mạnh bởi dòng tranh chính trị của một hoạ sĩ Đức, nhưng tự mình tìm một con đường riêng, đó là những tác phẩm về chiến tranh Việt Nam, một chủ đề khiến tôi rung động nhiều nhất, muốn hiểu về nó một cách sâu sắc. Tôi đang làm bộ phim về các hoạ sĩ ký hoạ thời chiến, những câu chuyện của họ luôn đặt ra trong tôi nhiều câu hỏi, và tôi cứ mải miết với những câu trả lời bằng nghệ thuật.
Năm 1993 – 1994, lần đầu tiên về Việt Nam, tôi thấy rất nhiều người ăn xin ngoài đường là nạn nhân chất độc da cam. Việt Nam lúc ấy còn rất ngần ngại khi nói đến chuyện này, có lẽ sợ ảnh hưởng đến hình ảnh nước xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới. Chính phủ Mỹ càng không muốn, vì họ trốn tránh chuyện đền bù thiệt hại chiến tranh. Triển lãm gồm những chiếc áo len, những núm vú dành cho các bé sơ sinh hai đầu, những bức tượng trẻ thơ hai đầu ngự trên toà sen của tôi cuối cùng phải mang ra... một gian hàng bán quần áo của trung tâm thương mại Intershop. Nhiều người ái ngại bỏ đi, nhưng cũng có người can đảm đứng lại hỏi han, trò chuyện, và những câu chuyện của họ tiếp tục là nguồn cảm hứng cho tôi. Những tác phẩm của tôi nhìn rất dễ thương, người ta có thể suy nghĩ về những đứa trẻ như thế mà không quá đau thương, sợ hãi. 13 năm trôi qua, người ta vẫn nghĩ đây là tác phẩm cần xem, nó vẫn đi khắp thế giới, từ Hà Lan, Đức, Mỹ...
Loay hoay nhiều năm giữa việc đi và về, có bao giờ anh cảm thấy mình bị lạc giữa hai thế giới, không cảm thấy đâu là nơi chốn thật sự của mình?
Sống ở Mỹ và làm nghệ thuật là điều gần như không tưởng với tôi khi còn trẻ, nhưng tôi đã làm được. Dù có chút thành công, nhưng đôi lúc giật mình bởi một cảm giác “lưu vong”, lạc lõng, rất mơ hồ. Về Việt Nam lần đầu tiên để xem, để biết, từ trong tim, tôi hiểu đây mới là nơi của mình, nhưng làm sao để hoà nhập với xã hội, với không gian làm nghệ thuật ở đây thì phải cần rất nhiều thời gian, sự kiên nhẫn. Khó khăn nhất là người làm quản lý văn hoá chưa cởi mở lắm với mỹ thuật đương đại.
Sàn Art làm ra để giúp hoạ sĩ Việt Nam, mỹ thuật Việt Nam phát triển, nhưng nhiều khi cứ bị nghi ngờ, mình rất buồn, luôn luôn phải giải thích. Không ai tin mình làm phi lợi nhuận, luôn đặt câu hỏi liệu tôi có ý đồ gì trong đó! Một xã hội mà lòng tốt bị nghi ngờ như thế rõ ràng là có vấn đề rồi. Nhưng tôi nghĩ đó cũng là bình thường. Khi xã hội biến đổi quá nhanh, bao giềng mối tan rã, một số người kiếm tiền nhanh quá, thì những giá trị sống sẽ bị thử thách rất nhiều. Cần có thời gian để điều chỉnh lại, tĩnh lại một chút.
Chính bài học sống từ những hoạ sĩ thời chiến tranh đã giúp tôi vượt qua. Thời đó thiếu thốn khó khăn thế, sao họ sống mãnh liệt thế, sẵn sàng chia sẻ, rất yêu đời, viết thơ, đọc thơ, ca hát, lạc quan và lãng mạn vô cùng. Họ vẽ mà chẳng biết ngày mai mình còn được sống không, cũng chẳng cần biết để làm gì. Họ đâu nghĩ sau này những bức ký hoạ ấy trở thành những trang lịch sử quan trọng cho đất nước. Còn bây giờ giới trẻ có đủ thứ mà vẫn than chán là sao? Lịch sử dân tộc mình chất chứa bao điều đẹp đẽ, mình phải khơi ra từng lớp, từng lớp, nếu không sẽ quên hết. Sau 15 năm lặng lẽ làm việc, tôi đã có thêm rất nhiều bạn bè, hiệu ứng xã hội với mỹ thuật đương đại cũng cởi mở hơn, điều đó an ủi tôi thật nhiều. Cũng cần có thời gian để mọi người biết mình là ai.
Theo anh, làm thế nào để tạo dựng một không gian tự do hơn cho nghệ thuật đương đại?
|
Thiếu hiểu biết sẽ sinh ra sợ sệt, đắn đo. Khi có nhiều thông tin hơn thì hoạ sĩ, cộng đồng, người kiểm duyệt sẽ dễ dàng sống với nhau hơn.
|
Thiếu hiểu biết sẽ sinh ra sợ sệt, đắn đo. Khi có nhiều thông tin hơn thì hoạ sĩ, cộng đồng, người kiểm duyệt sẽ dễ dàng sống với nhau hơn. Quan sát đời sống nghệ sĩ, tôi thấy hoạ sĩ Việt Nam rất thiếu không gian để sáng tác. Họ thường sáng tác trong không gian chật chội nơi nhà ở của mình, ít ai có được một xưởng vẽ đúng nghĩa, để có thể đóng cửa lại không bị quấy rầy. Ở nước ngoài, tôi thấy họ thường dành những toà nhà xưa cho giới nghệ sĩ. Nếu như cảng Ba Son chẳng hạn, sau khi giải toả được chính quyền giữ lại làm không gian phát triển văn hoá nghệ thuật thì tuyệt vời, vì chính họ sẽ là người giữ lại lịch sử, làm đẹp hơn cho lịch sử. Giáo dục đại học cũng cần thay đổi mạnh mẽ về giảng viên, giáo trình. Ở Việt Nam hiện đã xuất hiện những gallery phi lợi nhuận, những người xả thân cho mỹ thuật đương đại, nhưng rất tiếc thiếu sự kết nối với nhau, không thể duy trì lâu dài. Cần phải có sự hỗ trợ của bạn bè nước ngoài về kỹ thuật, nếu chỉ một mình không thể tạo được sự đổi thay.
Những em bé dị tật ngự trên toà sen, những ám hoạ Đức Phật hoà quyện với gương mặt người trên những bức tranh đan khổ lớn... dường như đạo Phật ảnh hưởng mạnh đến quan điểm thẩm mỹ và quan điểm sống của anh?
Tình yêu đất nước, tình yêu con người luôn quấn quyện trong những việc tôi làm, giúp tôi đủ kiên nhẫn để đối diện với khó khăn. Tôi không theo đạo, nhưng đạo Phật ở Việt Nam đã tan hoà vào cuộc sống, thấm vào cách ứng xử giữa người với người. Đó là cái nhìn bao dung, buông bỏ, không nuôi dưỡng hận thù. Ngay cả những người Mỹ bạn tôi khi sang Việt Nam cũng hỏi tôi: “Tao tưởng tụi tao sẽ bị nhổ nước bọt vào mặt khi qua Việt Nam chứ?” Thông điệp từ nghệ thuật của tôi cũng vậy: nên nhớ, nên hiểu về chiến tranh, nhưng không sống trong hận thù, không bị nó giữ lại để không thể bước tới.
Một người đã từng đi nhiều nơi trên thế giới như anh nghĩ gì về những giá trị gia đình? Anh có ưu tư gì không khi nghĩ về chữ hiếu?
Đi khắp thế giới cũng là để học, để tìm tòi khám phá, nhưng rồi vẫn phải trở về Việt Nam để tiếp sức, tiếp hơi. Xã hội nào thì gia đình vẫn là nơi mình có thể trở về, nơi mình có thể dựa lưng mỗi khi vấp ngã. Bố tôi là một nhà giáo, từng làm hiệu trưởng một ngôi trường ở Hà Tiên. Dù không trở thành nhà giáo dục, nhưng Sàn Art cũng là cách để chia sẻ với mọi người các giá trị sống, giống như bố tôi. Con người ưa khai phá, tìm tòi, luôn luôn đặt câu hỏi trong tôi ảnh hưởng rất lớn từ mẹ. Tôi nghĩ chữ hiếu rất quan trọng, nhưng không phải cứ quên mình vì cha mẹ là trọn chữ hiếu. Ngày xưa mẹ muốn tôi trở thành kỹ sư, nhưng tôi đã bất tuân lệnh mẹ để trở thành hoạ sĩ. Tôi không muốn đánh mất bản thân mình, và bây giờ thì mẹ có thể hãnh diện vì tôi. Tôn trọng lẫn nhau và giữ được mối quan hệ cân bằng giữa cha mẹ và con cái là cách báo hiếu tốt nhất.
Sống ở một vùng ven nghèo của Sài Gòn đã cho anh những cảm nhận thế nào mỗi sáng mai thức giấc? Điều gì giúp anh giữ được niềm hưng phấn dài lâu với sáng tạo nghệ thuật?
Nhìn họ, tôi thấy những khó khăn của mình nhỏ lại. Mỗi ngày, tôi thấy những người dân nghèo phải bước qua sự cực nhọc của mình, thấy những gì họ phải làm để được một số tiền chẳng bao nhiêu, nhưng vẫn vui vẻ sống, sẵn sàng hy sinh cho con cái họ có được cuộc sống tốt hơn. Nhiều khi nghĩ mình cũng có tiền rồi, tại sao không mua một miếng đất ở quê sống an phận, nhưng rồi trách nhiệm với nghệ thuật cứ kéo tôi đi. Tôi luôn có rất nhiều ý tưởng sống trong đầu. Mỹ thuật đã tạo ra những cuộc thám hiểm rất thú vị, luôn thúc đẩy tôi gắn bó lâu dài với nghệ thuật.
Nhìn lại con đường nghệ thuật của mình, anh thấy mình được gì, mất gì?
Được – mất luôn dính líu với nhau rất mạnh mẽ. Nghệ thuật giúp tôi tự tin hơn, giữ được sự hồn nhiên vốn có, và có thể suy nghĩ tự do, khác biệt, mà vẫn được đánh giá cao. Điều đó tạo lòng tin cho tôi bước tới trên con đường nghệ thuật. Cái mất lớn nhất chính là thời gian, tôi không có phút nào sống riêng tư, vì với tôi, nghề và đời là một, có lẽ vì thế mà đến giờ tôi vẫn chưa lập gia đình.
Liệu còn điều gì để anh phải sợ hãi nữa không?
42 tuổi rồi nhưng cho đến giờ tôi sợ nhất là... mất mẹ. Bố tôi mất khi tôi mới mười tuổi, nỗi mất mát ấy vẫn còn nguyên trong tôi một khoảng trống lớn. Tôi mãi mãi muốn được là đứa trẻ trong vòng tay của mẹ. Tôi sợ một ngày tôi phải trở thành người lớn, sợ mình không được là con của ai nữa, dù biết, điều đó sẽ xảy ra....
thực hiện: Kim Yến
chân dung hội hoạ: Hoàng Tường
|
Ông Peter Geschiere, chủ tịch ban giám khảo quỹ Hoàng thân Claus vì văn hoá và phát triển:
“Tác phẩm của anh được xem như là một tiền tuyến của thực tại và nó cũng đầy thử thách. Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của truyền thông với các thực tế khác nhau thâm nhập cuộc sống. Cùng một lúc không còn có các thực tế giới hạn, thực tế ảo, các thực tế hàng ngày. Thực tế đã trở thành các khái niệm mơ hồ, không ngừng thách thức tri giác và nhận thức của chúng ta. Vì có quá nhiều bề mặt của thực tế bị ném vào chúng ta, chúng ta nên giải nghĩa được nó. Do vậy tôi nghĩ công nhận những con người đang làm việc tại tiền tuyến này, giúp họ tưởng tượng và tái tưởng tượng lại thế giới là rất quan trọng cho bất cứ dạng thực tại nào trên thế giới này”.
Ông Jose Roca, Nam Mỹ, thành viên ban giám khảo:
“Nhiều thế hệ nghệ sĩ Việt Nam được sinh ra tại Hoa Kỳ sau chiến tranh hoặc là di dân từ rất nhỏ. Với họ, Việt Nam là một sự bí ẩn, không thể chỉ nhìn qua các cách thể hiện trong phim chiến tranh của Hollywood. Lê Quang Đỉnh nắm lấy mảnh vỡ của lịch sử và đan nó lại theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, tạo thành các hình ảnh phức hợp từ các lớp đan dệt của hồi ức, truyền thống và lịch sử”.
Ông Lê Quang Khanh, hiệu phó trường Đại Việt, Gò Vấp (chú ruột nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh):
“Gia đình tôi nhiều đời làm giáo dục, nhưng ngay từ nhỏ Đỉnh đã có ý thức tự lập, nghĩ sao làm vậy, không ai cản được, không đi theo một con đường chung. Mẹ Đỉnh rất lo khi thấy con theo đuổi đời nghệ sĩ, lang thang khắp thế giới như một chàng lãng tử, nhưng cuối cùng bà cũng hiểu và chia sẻ với con trên bước đường đầy chông gai. Đam mê khám phá nghệ thuật truyền thống, Đỉnh đã đưa nghề thêu đan, truyện Kiều, và những chất liệu ngồn ngộn của cuộc sống hôm nay vào tác phẩm của mình, tạo dựng hình ảnh một Việt Nam mới đầy sức sống, hồi sinh từ chiến tranh”.
|