Phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu
Chăn nuôi lợi nhuận kém
SGTT.VN - Tốc độ phát triển ngành chăn nuôi những năm qua diễn ra khá nhanh, kéo theo ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi tăng 10 – 15% mỗi năm. Thế nhưng, việc phải phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, nên lợi nhuận ngành chăn nuôi tạo ra ít.
Từ năm 2008 trở về trước, nuôi cá tra mang lại tỷ suất lợi nhuận khoảng 20%. Nhưng từ năm 2008, tỷ lệ hộ nuôi thua lỗ ngày càng nhiều. Giám đốc một doanh nghiệp sản xuất thức ăn ở TP.HCM nêu lên nguyên nhân, đó là do những người nuôi cá tra phải phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào nguyên liệu thức ăn, thuốc thú y nhập khẩu với giá quá cao.
|
Lượng heo về các chợ đầu mối đang tăng lên do nông dân sợ thua lỗ, dịch bệnh, bán tháo đàn heo. Ảnh: Lê Quang Nhật
|
Đầu ra khó bù được đầu vào
“Hai năm trước, khẩu phần thức ăn cho cá tra có đến 60 – 70% là nguyên liệu cám, mì lát sản xuất nội địa nên giá thành sản xuất cá chỉ 9.500 – 10.000 đồng/kg. Nhưng nay, một phần do giá cám, mì lát nội địa tăng cao, từ trung bình 1.500 – 2.500 đồng/kg lên trên dưới 4.500 đồng/kg, phần vì hai loại nguyên liệu này độ đạm thấp nên doanh nghiệp sản xuất thức ăn phải nhập khẩu cám gạo, cám mì từ Ấn Độ thay thế”, vị giám đốc này nói thêm.
Những thành phần còn lại trong khẩu phần thức ăn cá tra như bột cá, đậu nành, bột thịt, premix, các chất phụ gia, thuốc thú y cũng phải nhập khẩu hoàn toàn. “Một ký cá tra tiêu tốn hết khoảng 1,7 ký thức ăn, nhân với giá trung bình 8.300 đồng/kg thì khoản này đã chiếm 14.110 đồng trên một ký cá. Cộng thêm tiền thuốc thú y, con giống, lãi suất, công chăm sóc… là vừa ngang bằng giá bán 15.500 – 16.000 đồng/kg cá như hiện nay”, anh Trần Văn Thảo, một người nuôi cá ở Cần Thơ đưa ra cách tính để dẫn chứng vì sao người nuôi cá phải bỏ nghề, bỏ hoang ao đầm như hiện nay.
Thực tế, ba năm gần đây, xuất khẩu cá tra mang về trung bình khoảng 1,3 – 1,5 tỉ USD. Thế nhưng, thử nhẩm tính, để có chừng ấy tỉ USD kim ngạch xuất khẩu, phải cần 1,5 triệu tấn nguyên liệu, tức là riêng chi phí thức ăn chăn nuôi đã mất đứt 1,05 tỉ USD.
Nghề nuôi heo, gia cầm cũng chẳng khá hơn. Anh Nguyễn Trí Công, chủ trại chăn nuôi heo ở Hố Nai, Đồng Nai nói có đến 90% nguyên liệu thức ăn phải nhập khẩu, từ cám gạo, cám mì, đậu nành, thuốc thú y, vắcxin... “Giá thành chăn nuôi hiện nay dao động 34.000 – 35.000 đồng/kg heo hơi, trong đó chỉ có 1.000 đồng được tính cho chi phí công lao động người chăn nuôi bỏ ra, còn lại là tiền nhập khẩu các loại nguyên liệu phục vụ chăn nuôi”, anh Công tính toán như vậy.
Bỏ quên lợi thế
Số liệu thống kê tổng cục Hải quan, sáu tháng đầu năm nay, tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 1,16 tỉ USD, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, sản lượng mặt hàng khô dầu đậu tương là 1,86 triệu tấn, giá trị 718 triệu USD, chiếm 62% kim ngạch nhập khẩu nhóm thức ăn gia súc và nguyên liệu.
Trước đó, trong năm 2009, là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có lợi thế sản xuất nông nghiệp nhưng chúng ta cũng đã chi trên 2,1 tỉ USD nhập khẩu các loại thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, cộng thêm gần 500 triệu USD mua thuốc thú y. Trong đó trên 1 tỉ USD để mua khô dầu đậu tương, trên 300 triệu USD mua bắp, trên 280 triệu USD mua bột cá, xương thịt...
Theo tính toán của doanh nghiệp sản xuất, để sản xuất ra 1kg thức ăn chăn nuôi cần tỷ lệ nguyên liệu bắp (chiếm 56%), khô đậu nành (23%), mì viên (15%), premix (5%)...
Những loại nguyên liệu nhập khẩu nêu trên, ngành nông nghiệp nội địa có thể đáp ứng được tới 95%. Vậy thì tại sao chúng ta vẫn phải phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu? Ông Lê Bá Lịch, chủ tịch hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, cho rằng do chúng ta thiếu quan tâm đến đầu tư quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu. Ông Lịch nói: “Ngoại trừ mỗi năm phải nhập gần như 100% khô dầu đậu tương, trung bình 2 – 2,5 triệu tấn, với trị giá 1 tỉ USD vì chúng ta không có lợi thế trồng loại cây này, còn việc phải nhập bắp, cám gạo, cám mì là hết sức vô lý. Bởi vì hiện nay, cả nước có khoảng 1 triệu hecta bắp với sản lượng khoảng 4 triệu tấn/năm, nhưng nằm rải rác ở hầu hết các tỉnh chứ không được quy hoạch lại thành vùng. Chính vì vậy, vào mùa sản xuất, doanh nghiệp chỉ thu gom được khoảng 2,2 triệu tấn cho sản xuất thức ăn công nghiệp, còn lại là nằm phân tán trong dân, để ẩm mốc, kém chất lượng. Do đó, chưa nói đến việc cải thiện năng suất, chất lượng, chỉ cần chúng ta quy hoạch vùng cho tốt để gom lượng bắp về một vài đầu mối thì cũng có thể tiết kiệm vài ba trăm triệu USD nhập khẩu mỗi năm”.
Đối với mặt hàng mì lát và cám gạo, mỗi năm Việt Nam sản xuất ra khoảng 34 – 36 triệu tấn lúa, trên dưới 2 triệu tấn mì lát, nhưng cuối cùng doanh nghiệp vẫn phải đổ ngoại tệ vào nhập khẩu vì hiện nay chưa có doanh nghiệp nào bỏ tiền đầu tư chế biến loại nguyên liệu này để dự trữ, sử dụng lâu hơn.
Đặng Hoàng