“Nếu cần thì sửa luật”
SGTT.VN - Thứ trưởng bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị về nhu cầu nhà ở, nhà thuê và căn hộ 20m2.
Ông bình luận thế nào về diện tích nhà ở bình quân đầu người 16,7m2 vừa được tổng cục Thống kê công bố?
Tôi rất ấn tượng. Con số này đã vượt chỉ tiêu của chúng ta cho đến năm 2015. Có nghĩa là, diện tích nhà ở xây dựng trong mười năm qua bằng toàn bộ diện tích xây dựng từ năm 1999 trở về trước. Tức là trong mười năm qua, quỹ nhà ở tăng gấp đôi.
Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề lắm. Ví dụ có hơn 95% hộ ở nhà riêng, chỉ có 3 – 4% là thuê nhà. Số hộ thuê nhà ở thành thị là 15%, thấp so với trung bình khoảng 50% trên thế giới. Có nghĩa là tỷ lệ như trên là quá thấp. Ở một nước nghèo như Việt Nam mà ai cũng muốn sở hữu nhà ở thì rất khó giải quyết. Tỷ lệ người không có nhà ở rất thấp, chỉ khoảng 6/10.000.
Chính vì thế mà diện tích nhà ở trên 16m2/người đạt được mục tiêu của Chính phủ nhưng vẫn còn rất thấp so với thế giới. Lý do là chúng ta chưa phát triển được hình thức nhà ở thuê.
Vì sao thị trường bất động sản ở Hà Nội và TP.HCM khác nhau đến vậy? Hà Nội thì giá rất cao, minh bạch thông tin kém, còn TP.HCM thì ngược lại?
Rất dễ lý giải thôi. Thứ nhất là TP.HCM có diện tích gấp 3 – 4 lần Hà Nội trước khi mở rộng, mà dân số chỉ hơn Hà Nội có 20% thôi. Cho nên, TP.HCM về mật độ dân số là thấp hơn Hà Nội. Thứ hai, TP.HCM phát triển nhà ở bởi rất nhiều doanh nghiệp tư nhân. Họ năng động hơn, quy mô dự án nhỏ hơn, số dự án nhỏ hơn, tốc độ triển khai nhanh hơn. Thứ ba, TP.HCM chiếm 47% tổng dư nợ bất động sản, tức là tiền để xây nhà ở TP.HCM chủ yếu là vốn vay. Do đó, họ không thể ngâm lâu được. Đến kỳ hạn trả nợ họ phải bán hàng. Tức là cung cầu ở TP.HCM tốt hơn.
Còn ở Hà Nội, mật độ dân số cao hơn rất nhiều. Thứ hai, thời gian qua vì mở rộng thủ đô và quy hoạch chung chưa được phê duyệt nên số dự án đã ít, mà số bị đình lại lên đến 800. Vừa rồi mới “đi” được hơn 200 dự án. Các dự án bị đình hoãn để xem xét cao nên số cung rất ít. Ngoài ra, Hà Nội chiếm có 17% tổng dư nợ bất động sản, nên nguồn tiền đầu tư vào đây phần lớn là của dân chúng, tiền tự có của doanh nghiệp chứ tiền vay ngân hàng không có bao nhiêu. Vì thế, sức ép bán nhà ra để thu tiền về trả nợ ở Hà Nội nhỏ hơn TP.HCM rất nhiều. Như thế, thị trường ở Hà Nội là thị trường của người bán, còn ở TP.HCM là của người mua.
Trong 10 năm qua quỹ nhà ở đã tăng gấp đôi, mà giá nhà vẫn rất cao. Vậy tầm nhìn của ông về vấn đề nhà ở trong trung hạn là gì?
Nhu cầu nhà ở vẫn rất lớn nên thị trường này có điều kiện tiên quyết rất tốt để phát triển… Vấn đề của chúng ta là làm sao tạo cơ chế chính sách thông thoáng để khuyến khích các doanh nghiệp xây được nhiều nhà hơn nữa. Còn về giá, vấn đề này bị quyết định bởi quy luật cung cầu của thị trường. Chúng ta chỉ có cách để giảm giá là đẩy cung lên.
Ông là người phát động chương trình xây dựng nhà ở cho thuê, đặc biệt là cho người nghèo. Nhưng có vẻ chương trình này không được hưởng ứng của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước?
Tôi có đánh giá ngược lại, tôi rất lạc quan và cho rằng đây là chương trình được sự hưởng ứng rất tốt của xã hội, của chính quyền, doanh nghiệp và người dân. Chính sách mới đưa ra một năm nay mà đến thời điểm này đã có trên 50 dự án được triển khai ở các địa bàn quan trọng, đáp ứng chỗ ở cho hàng trăm ngàn người, bên cạnh đó hàng trăm dự án khác đang được chuẩn bị. Đó là dấu hiệu rất tích cực và rất đáng khích lệ. Anh biết một dự án nhà ở phức tạp như thế nào, nào là đền bù, giải phóng mặt bằng, lập quy hoạch, phê duyệt, lập dự án, chuẩn bị vốn...
Nhưng có vẻ sự ủng hộ của chính quyền địa phương không mặn mà như ông nói, chẳng hạn TP.HCM không đồng ý cho xây dựng nhà 20m2?
Đó là câu chuyện khác. Chuyện này vướng vào luật của Việt Nam. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, điều này không phù hợp với thực tế. Hầu hết các nước trên thế giới không khống chế diện tích căn hộ. Đây là một chủng loại hàng hoá và cần để cho doanh nghiệp quyết định. Ngay như ở Trung Quốc, người ta xây dựng cứ sáu căn hộ thì có một căn dưới 20m2.
Theo điều tra của tổng cục Thống kê, số hộ sống ở các căn nhà dưới 15m2 còn chiếm tới 7%. Thực tế trong xã hội có nhiều người sống độc thân, hay chỉ hai vợ chồng. Việc làm căn hộ nhỏ không đồng nghĩa với việc làm cho người dân ở chật, ở chật hay rộng phụ thuộc vào tổng diện tích nhà chia cho tổng dân số. Anh làm căn hộ 50m2 thì mười mấy người ở, anh làm 20m2 thì 2 – 3 người ở. Vấn đề của chúng ta là phải đẩy mạnh nguồn cung để làm tăng quỹ nhà lên, chứ không phải chỉ làm những căn hộ rộng 100m2 cho những người có thu nhập khá, và ngoài tầm với của nhiều người khác.
Ông vẫn sẽ giữ quan điểm này trong vấn đề còn nhiều tranh cãi này chứ?
Tôi vẫn ủng hộ việc này, nhưng cũng cần có thêm các cuộc hội thảo để tranh luận nhằm đi đến nhận thức thống nhất trong chính quyền, doanh nghiệp và người dân. Phải có luận cứ khoa học dựa trên điều tra thực tiễn, chứ không phải dựa trên ý chí của người này hay người kia. Nếu cần, ta cũng phải sửa luật.
Các doanh nghiệp rất muốn làm căn hộ loại này vì trên thực tế các căn hộ này khác các căn hộ nhỏ ngày xưa. Các căn hộ nhỏ ngày nay được thiết kế theo hình thức khép kín, công nghệ thiết kế đã tốt hơn rất nhiều, đảm bảo ánh sáng, công năng sử dụng. Căn nhà tuy nhỏ nhưng có đủ những bộ phận chức năng như chỗ ngủ, tiếp khách, bếp, kết hợp với thiết kế nội thất đẹp và phù hợp. Tôi rất ủng hộ việc này vì người dân đang có nhu cầu. Giá cả phù hợp với sức mua, nếu đưa ra thì được tiêu thụ mạnh. Vì sao chúng ta ngăn cản việc này? Bây giờ vẫn còn nhận thức khác nhau, không loại trừ do còn có những vấn đề khác trong này.
Tư Giang (thực hiện)