TP.HCM: tiềm năng mua bán khí thải lớn, nhưng...
SGTT.VN - Sau gần năm năm triển khai thực hiện, dự án “mua bán khí thải” của TP.HCM từ hai bãi rác Đông Thạnh và Phước Hiệp 1 mới bắt đầu có tín hiệu trở lại khi lò đốt tại đây vừa ghi nhận lượng khí đốt chính thức vào tháng 7 năm nay. Tuy nhiên, cho đến nay tổng số tiền thành phố thu được từ hai dự án áp dụng theo “cơ chế phát triển sạch” trên chỉ còn gần 500.000 USD, thay vì hơn 20 triệu USD như tính toán ban đầu được ký kết trong hợp đồng năm 2007.
|
Các bãi rác tại TP.HCM đều có tiềm năng trong việc “bán khí thải”, tuy nhiên cơ hội để kiếm được nhiều tiền đã trôi qua.
|
Khó khăn
Có thể hiểu, “cơ chế phát triển sạch” (Clean Development Mechanism – CDM) là một trong “ba cơ chế mềm dẻo” mà Nghị định thư Kyoto đã thiết lập, là cơ chế duy nhất liên quan đến các nước đang phát triển, theo đó, Việt Nam có thể tham gia chương trình giảm khí thải nhà kính. Trong khuôn khổ chương trình CDM, nếu Việt Nam giảm được một lượng khí phát thải khí nhà kính, thì sẽ được cấp giấy chứng nhận, gọi là Giảm phát thải được xác nhận – CERs. Chứng chỉ này được dùng để bán cho các quốc gia, các tổ chức nước ngoài có nhu cầu giảm phát thải khí nhà kính.
Bộ Tài nguyên và môi trường Việt Nam đã thiết lập một danh sách nhiều ngành nghề có tiềm năng thực hiện CDM như giao thông vận tải, tái tạo và cải thiện hiệu quả năng lượng, xử lý tiêu huỷ chất thải, trồng và tái tạo rừng… Để tạo điều kiện cho CDM phát triển, nhà đầu tư xây dựng và thực hiện dự án CDM được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, tín dụng đầu tư của Nhà nước. Tại TP.HCM, dự án CDM đầu tiên được triển khai là ở hai bãi chôn lấp rác Phước Hiệp 1 (Củ Chi) và Đông Thạnh (Hóc Môn). Nhà đầu tư dự án là công ty TNHH KMDK Vietnam. Đơn vị này sẽ đầu tư toàn bộ hạng mục phủ kín các bãi chôn rác trong dự án, đồng thời xây dựng hệ thống thu khí và xử lý khí tại đây. Lượng khí thu được sẽ dùng làm nhiên liệu đốt để phát điện.
Tuy nhiên, sau gần năm năm triển khai, dự án hầu như không hoạt động được gì. Theo đại diện sở Tài nguyên và môi trường TP.HCM, bên cạnh việc tạo điều kiện về hồ sơ thủ tục cho nhà đầu tư trong lĩnh vực này còn chậm chạp, nguyên nhân dự án chậm triển khai còn do nhà đầu tư, công ty KMDK bị khó khăn về tài chính. Đến nay, tổng số tiền thành phố thu được từ hai dự án áp dụng theo “Cơ chế phát triển sạch” trên chỉ còn gần 500.000 USD, thay vì hơn 20 triệu USD như tính toán được ký kết trong hợp đồng vào năm 2007 để nhà đầu tư có quyền khai thác nguồn khí thải từ hai bãi rác trên trong vòng bảy năm. Giá bán 1 CER (tương đương 1 tấn CO2 quy đổi) là 13,23 USD. Lượng khí tại hai bãi rác Đông Thạnh và Phước Hiệp 1 hiện cũng đã giảm từ 3 triệu tấn CO2 theo đánh giá ban đầu, nay còn 99.000 tấn CO2. Để tạo điều kiện cho KMDK tiếp tục dự án, UBND thành phố chấp thuận thay đổi phân chia lợi nhuận giữa thành phố với KMDK từ 40/60 thành 20/80. Ngoài ra, nhà đầu tư được hưởng toàn bộ doanh thu từ việc bán điện sản xuất ra.
Tiềm năng lớn
Khi bắt đầu tham gia vào thị trường mua bán khí thải, TP.HCM được đánh giá có tiềm năng lớn về CDM. Nhiều nhà chuyên môn từng lạc quan: tối thiểu, mỗi năm thành phố có thể bán được từ 1 – 2 triệu tấn khí thải. Trong thực tế, TP.HCM đã và đang triển khai nhiều hoạt động liên quan đến CDM như: nghiên cứu khả thi các dự án sử dụng hiệu quả năng lượng, dự án thu khí từ hệ thống xử lý bùn… Tuy nhiên đến nay, ngoài dự án thu hồi khí bãi rác và phát điện tại hai bãi rác Đông Thạnh và Phước Hiệp 1, chưa dự án nào khác được triển khai.
Tiến sĩ Lê Văn Khoa, giám đốc quỹ Tái chế chất thải TP.HCM cho rằng: ngoài tiềm năng “mua bán khí thải” từ các bãi rác, thành phố khó mà thu lợi được từ nhiều ngành nghề khác dù tiềm năng không nhỏ. Nguyên nhân, đa số các doanh nghiệp cùng ngành nghề có thể tham gia đều nhỏ lẻ, nằm rải rác, không thể đủ “lượng khí thải” đáp ứng nhu cầu dự án. Nhưng việc liên kết các doanh nghiệp cùng nghề có tiềm năng này thì lại cực khó, kiếm nhà đầu tư làm CDM liên kết này cũng không dễ do tính hợp tác của doanh nghiệp Việt Nam không mạnh. Do vậy rất cần một đầu mối liên kết và tìm kiếm đối tác. “Nếu 3.000 xe buýt hiện nay của thành phố đều được chuyển đổi sang chạy bằng khí CNG thì điều này hoàn toàn có khả năng làm dự án CDM. Tiếc rằng dự án này của thành phố quá ì ạch”, ông Khoa cho biết thêm.
Năm 2012, Nghị định thư Kyoto sẽ hết hiệu lực. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa việc “mua bán khí thải” sẽ không còn nữa. Theo nhiều chuyên gia, xu hướng phát triển thị trường carbon thời kỳ hậu Kyoto là rõ ràng, do vậy việc đẩy mạnh các dự án CDM tại Việt Nam là cần thiết, bên cạnh việc thu được một lợi nhuận không nhỏ thì nó còn góp phần quan trọng trong giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.
bài và ảnh: Lê Quỳnh