BÁC SĨ TRÒ CHUYỆN
Năm nay đào lại nở...
SGTT - Trang Tử có nói chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh (bậc chí nhân không thấy có mình, bậc thần nhân không nhớ đến công mình, bậc thánh nhân không nghĩ đến danh mình). Ông đồ Võ Trường Toản đúng là vô kỷ, vô công, vô danh.
Thầy của các bậc thầy
 |
Từ chợ Ba Tri (Bến Tre) đi khoảng 15 cây số, vòng vo mới tới đền thờ Võ Trường Toản. Đền thờ cùng khuôn viên mộ phần thật bình dị. Có bức tượng đẹp. Y phục của một ông đồ, không rõ mang đôi dép hay đôi guốc, gương mặt nghiêm trang dung dị. Một bảng nhỏ gắn trên tường, tóm lược đời ông, không biết gốc gác nhưng là thầy có nhiều học trò danh nhân. Lại gần sát tượng thầy, tôi thấy hai trang giấy vi tính dán vào tường. Đây là bài văn bia do Phan Thanh Giản làm khi cải táng cụ từ huyện Bình Dương tỉnh Gia Định về làng Bảo Thạnh, Ba Tri. Kẻ hậu học thể hiện thật khúc chiết công đức và sĩ khí của bậc thầy. Mấy dòng dẫn giải thầy Võ Trường Toản chủ yếu dùng Tứ thư để dạy học trò và một lời của thầy “Sách Đại học một ngàn bảy trăm chữ, vỡ ra gồm vô số sự vật, tóm lại còn hai trăm chữ, lại tóm nữa thì một chữ cũng không”. Tôi choáng người, đây là tinh tuý dạy dỗ của thầy. Sách Đại học có bấy nhiêu chữ mà bậc thầy muôn đời đã dùng đào tạo bao nhiêu trò tốt. Tôi có hiểu chút chút, thấy một vài ý hay, giờ vẫn dùng được. Từ thiên tử đến thường dân ai cũng phải lấy điều sửa mình làm gốc, đổi chữ “thiên tử” thành “người lãnh đạo” thì xài rất hợp; nước Sở không lấy gì làm báu, chỉ lấy người thiện làm báu. Nghĩa sách rất bao la. Không ham danh lợi, không thích quan cao lộc cả, không thiên Tây Sơn, không thờ chúa Nguyễn, làm thầy gieo hạt tốt cho đời là đủ.
Những hình tượng đẹp
Nước giếng trong. Khi tôi trở thành giảng viên chuyên ngành ung thư học, thầy tôi, giáo sư đại học Y khoa Sài Gòn Đào Đức Hoành đã truyền sức cho tôi để bước vào một lĩnh vực bệnh khó cho một bác sĩ – thầy giáo trẻ. “Hãy học tinh thần của giếng. Nước giếng trong ai cần thì cứ múc. Giếng không sợ cạn. Càng múc nước lên càng trong. Đầy mà không tràn, không được đậy lại, phải để mọi người dùng. Theo đó mà lo cho người bệnh, chỉ dạy cho sinh viên đàn em”. Ông lật ra đúng quẻ Thuỷ phong tỉnh, trong sách Chu dịch của Phan Bội Châu. Thỉnh thoảng sau những buổi bàn luận về y học, tôi lại được thầy điểm xuyết vài quẻ Dịch, ông đã khơi dòng cho tôi. Tôi càng kính phục cụ Sào Nam Phan Bội Châu và trân trọng quyển kinh gói ghém tinh hoa Nho học.
Trên núi có chằm nước. Quẻ Trạch sơn hàm, hình tượng trên núi có cái chằm nước, “vì Sơn có vũng thũng xuống mà đựng được Trạch, Trạch vì trong lòng trống không mới chứa được nước”. Lòng mình trống không, chẳng có định kiến, mới tiếp nhận được người. Hàm nghĩa là cảm, là chứa. Cảm chân thật thì lâu dài.
Những người muôn năm cũ
 |
| Tượng Võ Trường Toản trong đền thờ tại làng Bảo Thạnh, Ba Tri. Ảnh: tác giả |
Quốc văn Giáo khoa thư, tuổi thơ ùa về. Lật từng trang, thấy từng hình trong Quốc văn giáo khoa thư lớp Đồng ấu, nhà xuất bản Trẻ. Các tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận soạn sách thật tuyệt. Bài ngắn gọn, tôi còn nhớ nằm lòng. Hình minh hoạ đơn giản. Bài Kẻ ở người đi có hình cả nhà đưa tiễn, mấy chiếc thuyền nhỏ, chấm dứt bằng câu: “Ôi! Cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Sách giản dị dành cho con nít. Xem lại thì giật mình. Sách cho người lớn! Nội dung bao quát hết.
Còn nhỏ đọc nổi không. Xin mua quyển Nho giáo của Trần Trọng Kim, ông ngoại cho tiền mà cười “Trời ơi, còn nhỏ quá đọc nổi không?” Tôi nhấp nhấp từ từ, chỗ nào khó hiểu nhảy qua, mỗi ngày một chút, nhai đi nhai lại. Nhờ vậy mà biết Tứ thư, Ngũ kinh là bí kíp của học trò ngày xửa ngày xưa, thi đậu ra làm quan cũng xài bấy nhiêu. Tác giả Trần Trọng Kim có cái tài viết sách đàng hoàng lại diễn giải dễ hiểu. Viết Nho giáo, soạn giáo khoa thư lớp Đồng ấu, thật là đáng khâm phục.
Vẫn là thầy đồ. Hai cuốn sách gối đầu giường là Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm. Tôi tưởng như ông trực tiếp giảng bài. Nhớ bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, mở sách ra, có bản dịch của Phan Huy Vịnh. Hổ nhớ rừng của Thế Lữ, Tiếng thu của Lưu Trọng Lư. Sách hay quá. Thầy Tây mà vẫn là đồ Nho. Thuở nhỏ học chữ nho, sau học Quốc ngữ. Thầy dạy, viết sách bằng tiếng Việt, tiếng Pháp. Là thầy giáo, ăn mặc nói năng, đối xử với học trò theo Lễ của Khổng Mạnh. Thầy chết trẻ lúc mới 48 tuổi. Sao mà làm được nhiều việc quá.
Ước mơ chuyển tải. Năm đệ lục, tôi vớ được cuốn Kim chỉ nam của học sinh, rồi cuốn Tự học để thành công. Từ đó, tôi theo miết sách của Nguyễn Hiến Lê. Thích nhất là Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, kể chuyện đời mình lồng ghép khít khao vào sự nghiệp biên khảo, phê bình, dịch thuật, thể hiện rõ nhân sinh quan và ước mơ chuyển tải khối lượng đồ sộ kiến thức của nhân loại cho lớp thanh niên. Sanh sau thầy Dương Quảng Hàm 14 năm, học giả Nguyễn Hiến Lê trong 72 năm đã để lại cho đời 120 đầu sách.
Chảy về phương Nam
Vào Văn Miếu Quốc tử giám ở Hà Nội, tôi thành tâm chấp tay xá nhà giáo họ Khổng cùng Tứ phối Nhan Hồi, Tăng Sâm, Khổng Cấp, Mạnh Tử. Rồi tôi lại cung kính rất lâu trước tượng thầy Chu Văn An. Sách Quốc văn giáo khoa thư có bài Ông Chu Văn An. Tôi nhớ hoài hình ông thầy mặc áo dài khăn đóng ngồi trên sạp, học trò già trẻ áo quần ngay ngắn, có người mặc áo nhà quan, khoanh tay kính cẩn. Sách ghi “người trong nước ai cũng khen ông là bậc cao hiền, khi ông mất, vua cho đem thờ trong Văn miếu”. Đạo Nho từ phương Bắc, lan khắp cõi Á Đông, hun đúc tinh hoa cho đất Việt trời Nam. Dòng chảy tiếp tục tạo hào khí Đồng Nai Gia Định với Võ Trường Toản và lớp hậu học Phan Thanh Giản, Đồ Chiểu.
Những người muôn năm cũ, các bậc hiền thánh vẫn mãi trong tâm tưởng chúng ta.
GS.BS Nguyễn Chấn Hùng
| Những con đường và những ngôi trường. Nguyễn Đình Chiểu theo học nghè Chiêu, nghè Trúc, học trò của Võ Trường Toản. Ông Đồ Chiểu, truyền đạt tinh thần chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm. Ông đồ yêu nước được tôn vinh đúng mực. Đền thờ uy nghi ở Ba Tri, nhiều trường, nhiều con đường mang tên ông. Ở TP. HCM có đường Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh. Mang tên các học trò thành danh của thầy Võ Trường Toản. Quận 3 có đường Nguyễn Thông. Chính ông và Phan Thanh Giản tổ chức di dời mộ phần thầy Võ Trường Toản về Ba Tri vì không muốn để giặc Pháp làm ô uế. Lại cùng Phan Thanh Giản xây Văn Thánh Miếu Vĩnh Long để đề cao đạo Nho, các bậc tiên hiền. Về sau trong miếu có Tuỵ văn lâu thờ bài vị hai kẻ sĩ đứng đầu đất Gia Định: Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản – vị đại nho, danh sĩ tròn tiết tháo, bỏ thân để giữ tâm. |