sgtt.vn, 23.05.2012  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 02.06.2010, 14:51 (GMT+7)

Chuyện xưa chuyện nay

Chỉ bán phở mới là quán phở?

SGTT - Hai cha con ông chủ một quán phở gia truyền nổi tiếng không đồng ý với nhau: người cha muốn chỉ tiếp tục bán phở thôi; người con, có óc năng động, muốn bổ sung thêm mấy món điểm tâm nữa. Nhưng, “bổ sung” tới mức độ nào thì quán phở vẫn còn là quán phở?

Minh hoạ: Đỗ Hoàng Tường

Hai cha con vô hình trung đụng đến một trong những câu hỏi quan trọng nhất và cũng nhức đầu nhất của triết học: cái gì khả biến, cái gì bất biến? Cái gì làm nên bản chất của một sự vật? Triết học, từ thời cổ đại, cũng xuất phát từ kinh nghiệm đời thường: cái cây vẫn là cái cây dù mùa thu làm rụng lá. Chặt cái cây tới mức nào thì nó vẫn có thể hồi sinh? Cưa tận gốc thì tuy vẫn còn bộ rễ nhưng không còn là cái cây nữa. Cái cây đã bị phá huỷ tận “bản thể” của nó.

Con người cũng vậy. Xem lại tấm ảnh lúc tuổi thơ, ta nhận ra đó là “tuổi thơ của mình” chứ không phải của một đứa trẻ khác. Chừng nào mình còn xưng “tôi” là còn muốn nói đến cái gì không thay đổi, không thể lẫn lộn, dù tóc đã phai màu! Lập tức, ta vấp ngay một khó khăn: cái thực sự tạo nên sự vật thì không thể dùng mắt để nhìn mà phải dùng đầu để suy nghĩ. Nhưng, suy nghĩ từ cái gì? Cũng phải từ những gì mắt thấy tai nghe! Những gì mắt thấy tai nghe đều là khả biến, vô thường, vậy có thể xem những gì khả biến, vô thường là bản chất của sự vật? Nói thế cũng có nghĩa là sự vật không hề có bản chất! Song, thực tế cãi lại: khi mua một món hàng, ta muốn mua một món hàng thật, dù “cái thật” ấy ẩn sâu trong món hàng, khó nhận thấy. Gia đình, xã hội cũng thế. Sống trong một gia đình, một tổ chức, một xã hội, đâu phải ai lo phận nấy mà còn có một mục tiêu chung. Khi mục tiêu này mất đi, gia đình, tổ chức, xã hội không còn là chính nó nữa. Vậy, ta phải có ý thức về một cái bản thể thường tồn thì mới có thể nhận ra lúc nào nó bị đe doạ chứ? Hai cách đặt vấn đề tương phản như thế làm các triết gia điên đầu trong hơn hai ngàn năm nay!

Ở phương Tây, Aristoteles là người nỗ lực giải quyết vấn đề này. Ông khẳng định: bản chất của sự vật là bản thể của nó. Vậy bản thể là gì? Là cái gì “nằm bên dưới” sự vật, là cái gì bền vững mà nếu không có nó, không còn sự vật nữa. Hãy thử đọc hai cặp lục bát sau đây trong Truyện Kiều theo kiểu… triết học:

(1) Thuý Kiều sắc sảo, khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành

(2) Thịt da ai cũng là người
Lẽ nào hồng rụng thắm rời chẳng đau!

Câu (1) cho biết cô Kiều là như thế nào. Nhưng, các đặc điểm ấy không ổn định (cô Kiều có khi cũng… dại dột!) và nhất là, không thể tồn tại độc lập mà không gắn với cô Kiều. Chúng có thể thay đổi, nghĩa là, không nhất thiết cứ như thế mãi (hậu vận cô Kiều đâu có… vô duyên!). Vì thế, Aristoteles bảo: Thuý Kiều (như là cái gì cá biệt) là bản thể, còn “sắc sảo, khôn ngoan, vô duyên…” là những tuỳ thể (accidents, từ nghĩa gốc là ngẫu nhiên, tình cờ). Nhưng câu (2) thì khác, con người không thể lúc thì có “thịt da”, lúc thì không. Vậy nó nói lên con người là gì. Cái không thể thay đổi ấy được gọi là những thuộc tính. Thuộc tính thì tất nhiên không tồn tại độc lập, nhưng những thuộc tính nào thuộc về bản chất của sự vật thì cũng là bản thể, thậm chí còn là bản thể theo nghĩa cao hơn cả những sự vật cá biệt. Vậy, theo Aristoteles, ta có hai loại bản thể: cái cá biệt (Thuý Kiều) và cái phổ biến (“thịt da”, “người”…) Ông gọi cái trước là bản thể số một, cái sau là bản thể số hai. Tưởng xong, nhưng rồi lại thấy không ổn! Việc phân biệt ấy chẳng rõ ràng chút nào. Khi Thuý Kiều khen Từ Hải: “Rằng: Từ là đấng anh hùng!”, thì nếu rút bỏ thuộc tính “anh hùng” đi, có còn là Từ Hải hay chỉ là một người trùng tên?

Platon, thầy của Aristoteles, làm ngược lại; ông chỉ quan tâm đến một phương diện thôi. Chỉ có cái phổ biến (“người”, “thịt da”, “sắc sảo”, “khôn ngoan”…) mới là những cái duy nhất có thật. Ông là tổ sư của thuyết duy tâm khách quan, vì theo ông, những cái phổ biến ấy là thuần tuý, hoàn hảo, mẫu mực chứ không nhếch nhác khi trở thành những thuộc tính ở trần gian, vì thế, chúng ở một thế giới khác, trong khi những sự vật cá biệt trên thế gian này chỉ là những bản sao tồi tàn, mờ nhạt của chúng.

Thomas Aquino, đại triết gia Kitô giáo thời Trung cổ, đồng ý với Aristoteles là phải xuất phát từ những sự vật và bản thể trên trần gian này, nhưng cần tìm cho chúng một nền tảng sâu hơn. Theo ông, không phải ngẫu nhiên khi sự vật có một bản chất, tức có bản thể bền vững. Đó là nhờ có thượng đế. Nếu không có thượng đế và ý chí bền vững của Ngài để sáng tạo và duy trì thế giới này, tất cả đều tan rã hết.

René Descartes, cha đẻ của triết học cận đại, cũng dành cho thượng đế một chỗ đứng đặc biệt, nhưng có chỗ khác với Aquino. Theo ông, chỉ duy nhất thượng đế mới có bản thể vĩnh hằng theo nghĩa tuyệt đối, còn toàn bộ thực tại chia làm hai loại bản thể: bản thể có quảng tính (vật chất) và bản thể có tư duy (tinh thần). Nơi con người cũng thế: ngày nay, ta đi đến bác sĩ để khám bệnh và đi đến trường để học, chứ không đến cùng một nơi là nhờ có… Descartes!

Sống trong một gia đình, một tổ chức, một xã hội, đâu phải ai lo phận nấy mà còn có một mục tiêu chung. Khi mục tiêu chung này mất đi, gia đình, tổ chức, xã hội không còn là chính nó nữa

Descartes gặp một đối thủ có hạng: Gottfried Wilhelm Leibniz. Leibniz bảo rằng chính những “đơn tử” (monad) mới tạo nên bản chất của sự vật. Nó “không có cửa sổ”, nghĩa là không thể nhìn vào bên trong nó, nó tự tồn và không có gì bên ngoài làm thay đổi nó được. Quan trọng hơn, đơn tử có lực! Lực khổng lồ nữa là khác. Không cần phải là nhà vật lý nguyên tử, ta cũng tin vào sức mạnh của năng lượng nằm bên trong lòng sự vật. Chỉ cần nhìn một đội bóng đang vùng lên là đủ nhận ra cái gì thúc đẩy nó, đồng thời đó cũng là nguồn năng lượng của nó.

Immanuel Kant thấy các khẳng định của Descartes, Leibniz nghe thì hay nhưng không thể kiểm chứng được, nên cho rằng bản thể là cái gì chỉ hiện hữu trong đầu óc con người như một phạm trù để suy nghĩ về sự vật thôi, còn bản chất của sự vật là điều không thể nhận biết được.

G. W. F. Hegel nghĩ đến quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng: hiện tượng là gì nếu nó thiếu đi cái bản chất; bản chất là gì nếu nó không trình hiện ra?

Edmund Husserl cho rằng, đối với con người, không có cái bản chất nào ẩn giấu đằng sau sự vật cả, tất cả đều là những gì trình hiện cho ta, nên triết học của ông được gọi là hiện tượng học. Từ đó, Jean Paul Sartre, một trong những ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh, cho rằng hiện hữu của con người có trước bản chất. Xác định trước một bản chất, là hạn chế sự tự do chọn lựa của con người! Đối với các triết gia Anh, nhất là David Hume, John Locke, chỉ có những gì tri giác được, đo đếm được mới có thực. Một tư tưởng được thời đại bấy giờ hoan nghênh, vì nó hoàn toàn tương hợp với phương pháp của khoa học tự nhiên thời cận đại.

Ở thế kỷ 20, triết học và khoa học luận tìm cách thay thế khái niệm bản thể/bản chất quá trừu tượng bằng khái niệm chức năng. Lý thuyết hệ thống cũng vậy: sự vật được xác định không phải từ bản chất của nó, mà từ chức năng của nó trong một hệ thống nhất định.

Nhưng, nhiều người vẫn chưa trọn tin vào lý thuyết ấy. Họ vẫn cứ thành tâm hướng đến một cái gì siêu việt hơn đời thường, và… cha con ông chủ quán phở vẫn cứ tiếp tục tranh luận.

Bùi Văn Nam Sơn

Đọc thêm:

 Tư tưởng đổi thay số phận

(Kỳ sau: Socrate và nghệ thuật đối thoại)

Đánh giá bài viết:  

(92 điểm,22 lần)

Các ý kiến (6)
đào tuấn

Xin cám ơn tác giả Bùi Văn Nam Sơn đã tổng lược, minh họa cụ thể dí dỏm những vấn đề, khái niệm trừu tượng của cả lịch sử trường phái phát triển triết học về mối quan hệ cốt yếu giữa cái bản chất - hiện tượng. Tôi tâm đắc với thuyết hiện sinh của Sartre qua kết luận tóm tắt tổng quát :" cho rằng hiện hữu của con người có trước bản chất. Xác định trước một bản chất, là hạn chế sự tự do chọn lựa của con người!".

Ảnh hưởng của thuyết hiện sinh đã làm sôi động xã hội nhiều phong trào phản kháng, nổi loạn dữ dội trong thế hệ trẻ phương tây thập niên 60,70 và của nhiều phong trào yêu nước, phản đối chiến tranh chống Mỹ của thanh niên Sài Gòn trước năm 1975. Tiếc rằng, tinh thần hiện sinh đó đã dần mai một ít nhiều đối với nhiều thế hệ thanh niên hiện thời.

Tôi cũng tâm đắc với tác giả phụ trách mục này của quí báo khi có ý tưởng "bình dân hóa" triết học, đưa triết học vào đời sống chứ không phải là sản phẩm tháp ngà của các triết gia uyên bác nhưng khó hiểu....

Trung Hưng
Mọi rắc rối trước mối quan hệ bản chất và hiện tượng chính bởi vì ta đã không xét tới yếu tố tối quan trọng là sự nhận thức. Bản chất thật của đối tượng ư? Sẽ không bao giờ có bản chất thực của bất cứ một hiện tượng hoặc sự vật nào mà khó có bản chất được nhận thức. Vật lý hiện đại đã kết luận: Không có một thực tại khách quan mà chỉ có một thực tại được quan sát. Toàn bộ bài viết của anh Nam Sơn chưa đề cập đến yếu tố này không phải vì anh không biết mà là chắc dành cho những bài viết sau, tuy vậy tôi cũng xin hóng hớt nói sớm để ai quan tâm có thể nắm được vấn đề ngay
Nguyễn Xuân Xanh
Xin cám ơn tác giả Bùi Văn Nam Sơn đã làm một cuộc dẫn nhập lý thú, súc tích và ngắn gọn bằng vài thí dụ cụ thể dễ hiểu trong đời thường, để cắt nghĩa một số khái niệm căn bản trong triết học, và quan điểm của những nhà triết học tên tuổi liên quan. Tôi chỉ xin mạn đàm đôi chút để chia sẻ cùng bạn đọc. Nếu áp dụng hiện tượng luận học của Hegel về quan hệ giữa hiện tượng và bản chất, trong thí dụ quán phở của hai bố con ta có thể tạm đi đến kết luận sau đây: -Nếu tỉ lệ doanh số phở (hiện tượng) của quán vượt cao hơn doanh số của các thức ăn khác trong quán, thí ta có thể gọi quán vẫn là quán phở. Ngược lại thì không. Tương tự như thế đối với một quán cà phê, trong đó quán bán nhiều thức uống, ăn khác. Một anh bạn tôi bảo lại có trường hợp sau đây: quán phở nổi tiếng, khách vào ăn đông, nên tuy doanh số phở có thể kém hơn doanh số của các món còn lại, thì đó vẫn có thể xem là quán phở, bởi phở đã trở thành “thương hiệu”, và khi là thương hiệu, thì nó có “sức nặng” vô hình của nó về kinh tế. Đây có thể là trường hợp các quán cà phê “thương hiệu”, ở đó cà phê chỉ là đỉnh cao tên tuổi, còn những thức ăn, uống khác chỉ là phụ thôi, nhưng lại bán với số lượng khá nhiều. Như vậy hai bố con chủ quán có thể tạm chấm dứt tranh luận ở đây: Hoặc họ phải giữ sao cho doanh số phở lên cao so với doanh số cá món khác, hoặc phải tạo cho phở trở thành thương hiệu lấn lướt, thì lúc đó ông bố hài lòng là quán phở vẫn là quán phở. Các vị Aristoteles, Leibniz, Kant, Hegel và Husserl có thể tạm thời vào quán ăn những tô phở thơm ngon mà không cần phải tranh luận nhiều nữa về “bản thể” của quán phở. Hiện tượng luận của Husserl “không có bản chất nào ẩn giấu đàng sau sự vật cả, tất cả đều là những gì trình diện”. Khộng biết tôi có hiểu đúng không, nếu áp dụng vào vật chất thì có vài thí dụ thú vị sau đây. Sức mạnh bí ẩn (“bản chất”) của nguyên tử được khám phá bằng lý thuyết từ năm 1905, nhưng không ai tin nó là sự thật, kể cả người khám phá là Einstein, cho mãi đến 1945 khi bom nổ nguyên tử nổ ở Hiroshima và Nagasaki người ta mới biết sức mạnh hay “bản thể” đó của nguyên tử. Vậy việc “trình diện” bản chất là không dễ chút nào. CERN hiện nay vẫn còn đi tìm cái bí ẩn của vật chất và vũ trụ, “das Ding an sich” (vật tự nó) của Kant. Các hạt ở cấp vi mô cũng không dễ “thể hiện” ra cho ta biết bí mật của chúng, mà chỉ tồn tại một cách bí ẩn theo một qui luật xác suất nhất định (Born/ Heisenberg), và khi “bị” đo đạt, nghĩa là khi bị “buộc trả lời”, chúng mới thể hiện ra theo qui luật xác suất này, chứ không phải tất định. Cho nên “bản chất” rất ở đây khá phức tạp. Còn nếu áp dụng Husserl vào con người thì cũng khá khó, vì chẳng hạn làm sao xác định được cái thiện hay ác nằm trong con người, khi mà con người thể hiện mình, nghĩa là trình diện “cái ta” ra ngoài, lại tùy theo nhiều yếu tố: nội cảnh, ngọai cảnh, xã hội, quá trình giáo dục bản thân…? Còn theo thuyết nhà Phật thì mỗi con người có một linh hồn nhất định khi sinh ra (tạo thành từ các quan hệ nhân quả của bao kiếp trước), và những gì người đó thể hiện ra đều xuất phát từ linh hồn đó, mà cũng không dễ khám phá được. Nhưng linh hồn cũng không phải đứng yên một chỗ, vì nó còn hoặc trầm luân đi xuống, hoặc tôi luyện lên cao. Phải cuối đời mới có sự tổng kết của “bản chất”, như nàng Kiều của Nguyễn Du cho thấy. Nều nàng chết tại sông Tiền Đường, thì mọi đánh giá nàng sẽ không đầy đủ. Mục “Khám phá cuộc sống” thật là thú vị. Tôi tin đọc giả báo SGTT cũng như bản thân tôi sẽ theo dõi các bài viết của tác giả Bùi Văn Nam Sơn với sự chờ mong để học hỏi và suy ngẫm một cách thú vị.
Nguyễn Văn Trọng
VỀ “CHUYỆN XƯA, CHUYỆN NAY” của tác giả Bùi Văn Nam Sơn Nhiều người Việt Nam rất không coi trọng việc tiếp thu hiện thực trong toàn bộ chiều sâu và sự trọn vẹn của nó, vì vậy họ miệt thị tri thức triết học như là thứ trừu tượng viển vông, xa rời hiện thực cụ thể. Cái cụ thể đối với họ là cái được họ tách ra khỏi cái toàn thể mà họ xem là trừu tượng. Một thí dụ: xã hội hiện nay đang thịnh hành tín niệm rằng đồng tiền có sức mạnh vạn năng giúp con người đạt được hạnh phúc, vì vậy kiếm tiền là chuyện cụ thể quan trọng, mọi thứ khác là trừu tượng viển vông. Tiền bạc đã được tách rời khỏi tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần tạo nên hạnh phúc cho con người. Thực tiễn cuộc sống đang chứng minh tín niệm sức mạnh vạn năng của tiền bạc là không có cơ sở và không ít người phải trả giá đắt cho nó. Thế nhưng muốn hiểu được hiện thực trong chiều sâu và sự trọn vẹn của nó thì phải có phương pháp tư duy đúng đắn. Giá trị quan trọng nhất của triết học chính là dạy cho con người phương pháp tư duy đúng đắn ấy. Chuyên mục “Chuyện xưa, chuyện nay” trên báo SGTT do nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn dẫn dắt, vì vậy có giá trị thiết thực cho rất nhiều người trong xã hội hiện nay. Đối với những người có suy tư thì những biểu hiện tiêu cực thể hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội là bằng chứng về một cuộc khủng hoảng tinh thần của chúng ta. Những suy nghĩ vội vàng nông cạn không thể giúp chúng ta nhận thức được hiện thực trong tính toàn thể của nó. Không thể hiểu được ngày hôm nay ở ngoài mối liên hệ với ngày hôm qua và toàn bộ quá khứ trước đó. Nếu con người của ngày hôm nay cảm thấy mình đang lạc lối và lâm vào ngõ cụt thì không nên nhắm mắt đi bừa hay chỉ nhìn vào môi trường xung quanh gần nhất để định hướng. Con người ấy nên dừng lại, tạm quên đi những chuyện trước mắt để định tâm suy ngẫm lại xem thực ra mình muốn hướng đời mình vào đâu. Nếu những câu chuyện triết học của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn giúp được nhiều người nhận ra điều này thì ông quả đã làm được một điều thiện không nhỏ.
TTNha (Ha Noi)
Bài viết của ông Bùi Văn Nam Sơn khá hay, nhưng… khó nhằn đối với những người đọc vốn phần lớn không có kiến thức triết học một cách hệ thống. Quá nhiều những thuật ngữ để giải thích thuật ngữ, cũng như cái mục đích của bài viết hơi… mù mờ, khi ông kết luận sau cả dãy dài những lược thuật về các quan điểm kim cổ về hai khái niệm vốn cũng không phức tạp lắm rằng bố con ông hàng phở vẫn còn cãi nhau!. Tôi hiểu thế này không biết có sai không: Rốt cục những khái niệm triết học mà nhà văn muốn giải mã ở đây thực chất chỉ là hai khái niệm “Bản chất” và “sự biến thể có giới hạn” mà thôi. Cái biến thể ấy có thể do ngoại cảnh tác động, có thể do chính bản chất đó cần biến đổi để thích nghi và tự vệ. Chuyện này với nhân gian không có gì khó hiểu lắm. Mặc dầu vậy, bài viết cũng làm một số độc giả thấy thú vị vì nó gợi một liên tưởng đến các hiện tượng xã hội đang diễn ra. Nhưng khác với bố con ông hàng phở, người đọc thích được thấy một “kết luận” của chính tác giả, một kết luận rốt ráo và rõ nghĩa.
Phạm Hường

Ngày xưa học đại học sợ nhất là môn triết học, tmà sinh viên hầu như ai cũng sợ, ngán, chán, môn này. Tuy được điểm cao, nhưng hồi đó sinh viên như tôi học thuộc lòng, đối phó lấy điểm là chính. Sau này đi làm, có nhiều thời gian, nhiều kinh nghiệm khi va chạm cuộc sống mới thấy những ấn tượng của mình về môn triết hồi đó là sai. Đặc biệt sau khi đọc mấy bài của tác giả Bùi Văn Nam Sơn, tôi lấy thấy thực ra nếu chịu khó đọc, chịu khó suy ngẫm cộng với một chút kinh nghiệm sống thì môn này hoá ra lại hay.

Khi đó cứ nghe giảng viên bảo triết học là khoa học của các khoa học sinh viên bọn tôi không hình dung được. Giờ ngẫm lại thấy quả thật triết học có thể lý giải được nhiều điều. Quan trọng là cách dẫn dắt để đưa triết vào cuộc sống chứ không phải rút từ cuộc sống ra triết, nghe khô khan, lý thuyết. Cám ơn tác giả và chờ đợi những bài viết tiếp theo.

ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ email    
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
Các tin khác
SGTT.VN - Trong buổi sáng 9.3, tại phòng trình diễn chiếc máy phát điện chạy bằng nước, SGTT đã gặp GS.TS Nguyễn Đăng Hưng, chuyên gia nghiên cứu về vật lý hàng không - không gian. Ông trình bày quan điểm cá nhân về những vấn đề xoay quanh “phát minh” trên.

Xem thêm »

07:36 ngày 23.05.2012
SGTT.VN - Trước thềm kỳ thi tốt nghiệp THPT và kế đến là tuyển sinh đại học, việc học sao để nhớ kiến thức, làm bài được điểm cao và chế độ dinh dưỡng nào cho mùa thi là mối bận tâm thường gặp ở cả sĩ tử lẫn phụ huynh. Buổi giao lưu trực tuyến “Ôn thi sao cho hiệu quả” tại http://sgtt.vn, do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức sáng 22.5, không chỉ thu hút đông đảo học sinh và phụ huynh trực tiếp tham dự mà còn nhận được rất nhiều thư điện tử.