sgtt.vn, 22.05.2013  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 25.01.2013, 09:11 (GMT+7)

Lý do bài báo khoa học bị từ chối & hệ quả

Kỳ 2: Cơ hội từ thất bại

Những bài học

SGTT.VN - Biết được lý do bài báo bị từ chối cũng là một cách học. Sau đây là vài bài học có thể rút ra:

Khuyết điểm phổ biến nhất khiến một bài báo khoa học bị từ chối là phương pháp nghiên cứu. Ảnh: TL

Thứ nhất là khi có ý tưởng làm nghiên cứu, cần phải chú trọng đến cái mới. Cái mới ở đây không chỉ về ý tưởng, mà có thể là mới về phương pháp nghiên cứu, mới về kết quả và cách trình bày, cách lý giải kết quả nghiên cứu. Rất nhiều nghiên cứu y khoa từ Việt Nam thiếu cái mới, vì chỉ lặp lại những gì người khác đã làm. Một số người chỉ muốn theo đuổi những đề tài dễ, vì hoặc là thiếu kinh phí, hoặc không dám mạo hiểm theo đuổi những đề tài gai góc. Lại có những người chỉ làm theo lối mòn, vì họ sợ làm cái gì mới sẽ bị thầy cô bác bỏ. Trong nhiều trường hợp, chính thầy cô cũng chỉ làm theo lối mòn, vì sợ hội đồng duyệt tài bác bỏ. Bản thân các thành viên trong hội đồng duyệt đề tài cũng quen với những ý tưởng nhỏ, chắp vá, hay thậm chí chưa có kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học, nên họ phải… bảo thủ. Trong cái vòng tròn luẩn quẩn như thế, rất khó để các nhà khoa học Việt Nam có công trình công bố trên các tập san quốc tế.

Thứ hai là cần chú trọng đến phương pháp nghiên cứu. Trong nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế và phương pháp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Thiết kế nghiên cứu không thích hợp, thì dữ liệu có thể không có giá trị khoa học cao, và không có cơ may công bố trên các tập san có uy tín. Chẳng hạn như một công trình nghiên cứu y khoa thiết kế theo mô hình có yếu tố thời gian và có nhóm chứng lúc nào cũng có giá trị khoa học hơn là một công trình không có nhóm chứng. Trong nghiên cứu y học, phương pháp sai thì kết quả cũng sai hay không có giá trị cao.

Thứ ba là cách trình bày. Bài báo khoa học là một văn bản khó hiểu, bởi văn phong thường được viết rất ngắn và cô đọng. Nhưng nếu tác giả chọn cách viết dài dòng như viết tiểu thuyết thì đó là một cách chuốc lấy thất bại. Điều này có ý nghĩa với chúng ta, vì người Việt hay chịu ảnh hưởng của thơ văn trong cách viết bài báo khoa học. Nhiều tập san khoa học trong nước có cách trình bày… chẳng giống ai, chẳng theo một thông lệ khoa học nào. Điều này làm cho người đọc cảm thấy những bài báo nghiên cứu trong nước rất hời hợt và thiếu tính khoa học. Còn các tập san khoa học quốc tế có quy định rất chặt chẽ về cách trình bày dữ liệu, cách viết, thậm chí cách trình bày tài liệu tham khảo. Nếu bài báo không tuân thủ theo các quy định của tập san thì chắc chắn sẽ bị từ chối.

Thứ tư là cần thạo tiếng Anh. Phần lớn (90%) các tập san quốc tế, dù là tập san ở các nước Bắc Âu hay châu Á – Thái Bình Dương đều sử dụng tiếng Anh. Có thể nói không ngoa rằng tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chung của cộng đồng khoa học. Đối với các nhà khoa học Việt Nam, tiếng Anh là một vấn đề lớn, vì nhiều nhà khoa học Việt Nam dù có thể đọc, nghe, viết bằng tiếng Anh, nhưng phần lớn chưa ở trình độ có thể viết một bài báo khoa học hoàn chỉnh. Ngay cả những nghiên cứu sinh đã theo học các đại học nói tiếng Anh ở nước ngoài cũng chưa đủ khả năng tự soạn một bài báo khoa học. Do đó, các đại học, viện nghiên cứu nên tổ chức nhiều khoá học về cách viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, tiếng Anh không phải là lý do chính để từ chối một công trình nghiên cứu có chất lượng cao. Ngược lại, tiếng Anh “văn hay chữ tốt” cũng không thể bù đắp được những khiếm khuyết về cái mới và phần thiết kế cũng như phương pháp nghiên cứu.

Bị từ chối là một cơ hội!

Theo một phân tích mới đây, những bài báo bị từ chối sau khi được chỉnh sửa lại thường được công bố trên những tập san có ảnh hưởng cao. Do đó, không nên buồn khi thấy công trình của mình bị từ chối, mà nên xem đó là một cơ hội để làm tốt và hay hơn.

Các kết quả phân tích trên cho thấy khuyết điểm phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân thông thường dẫn đến quyết định từ chối một bài báo khoa học nằm ở phần phương pháp. Điều này không khó hiểu, bởi nếu phương pháp sai thì kết quả sẽ sai, các bàn luận và kết luận cũng có thể sai. Mà sai sót về phương pháp thì không sửa được (vì nghiên cứu đã làm rồi). Không có tập san khoa học nào muốn công bố một bài báo khoa học nhiều sai sót, nên quyết định từ chối những bài báo do khiếm khuyết về phương pháp là điều hoàn toàn có thể đoán được.

Bộ Khoa học và công nghệ vừa ra chính sách mới, theo đó công bố quốc tế được lấy làm một thước đo năng lực nghiên cứu khoa học. Chiến lược khoa học 2011 – 2020 viết rằng “tăng số lượng công bố quốc tế từ các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước trung bình 15 – 20%/năm”, “đến năm 2020 hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới”. Đây là một thách thức đáng kể cho giới khoa học Việt Nam, bởi càng ngày việc công bố khoa học càng khó khăn vì sự cạnh tranh toàn cầu giữa các nhà khoa học để có tiếng nói.

Trong khi chúng ta có kế hoạch gia tăng số ấn phẩm khoa học, thì các nước trong vùng đã bỏ xa chúng ta. Năm 2012, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 1.630 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế – chỉ bằng 30% của Thái Lan, 22% của Malaysia, 17% của Singapore. Những con số này cho thấy năng suất khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn, nhất là trong điều kiện 9.500 giáo sư và phó giáo sư cùng 24.000 tiến sĩ!

Còn một thực tế đáng báo động khác: vấn đề lệ thuộc. Phần lớn (70%) những công trình của Việt Nam là do hợp tác với nước ngoài. Có lĩnh vực như y khoa, tỷ lệ hợp tác với nước ngoài lên đến 80%. Hợp tác khoa học là điều cần thiết và cần khuyến khích, nhưng nếu 80% công trình nghiên cứu là do hợp tác thì có thể xem đó là một chỉ số về nội lực yếu kém, hay nói thẳng hơn là lệ thuộc. Điều này cho thấy ngay từ bây giờ Việt Nam cần phải xây dựng nội lực khoa học tốt hơn để cạnh tranh với các nước trong vùng và trên thế giới.

Để xây dựng nội lực, cần có những chính sách lâu dài hơn và có hệ thống hơn liên quan đến con người. Rất cần lập những quỹ dành cho các nhà khoa học trẻ (mới xong tiến sĩ) để gửi họ ra nước ngoài tiếp tục nghiên cứu trong giai đoạn hậu tiến sĩ. Đối với những nhà khoa học có triển vọng (không khó nhận ra những người này), cần có những tài trợ đặc biệt để họ đủ lương bổng mà không phải lo đến chuyện “cơm áo gạo tiền” hay phải chạy sô “xoá đói giảm nghèo”.

Nói tóm lại, chúng ta cần phải lập ra quỹ dành cho những nhà khoa học tinh hoa và cho phép họ độc lập trong nghiên cứu và sử dụng ngân sách khoa học. Khoa học bắt đầu từ con người có tài, và không có lý do gì mà xã hội không nuôi dưỡng những nhân tài.

Nguyễn Văn Tuấn

  
  
Đánh giá bài viết:  

(60 điểm,12 lần)

Các ý kiến (13)
Lê Thiện Giang
Tôi thấy vấn đề VN mình còn ít bài báo quốc tế là bởi cơ chế quản lí của nhà nước mình nặng về xin-cho và chạy chọt, không đánh giá trên cái thực chất. Ví dụ như ở các nước có khoa học phát triển, họ sẽ cấp kinh phí cho cá nhân hoặc tổ chức nào đó dựa trên Impact factor (là điểm tính cho các công trình nghiên cứu họ đã publish trong năm nghiên cứu trước đó). Còn nước ta thì sao? Tôi làm ở Viện nghiên cứu đầu ngành của một ngành lớn, thấy rằng, trước đây, nhà nước cấp kinh phí cho Viện tôi dưới 2 hình thức là đề tài cấp bộ và đề tài cấp cơ sở. Đề tài cấp cơ sở thì được Viện phân chia tương đối đều cho các bộ phận nghiên cứu chuyên sâu với tiêu chí ai cũng có việc làm. Nay thì đề tài cấp cơ sở bị cắt, chỉ còn lại đề tài cấp bộ, và phải đấu thầu. Đấu thầu là gì, là chạy chọt. Dù bạn có impac factor cao, dù bạn có hằng hà sa số những công trình quốc tế được công nhận mà ko có tiền chạy, chảng khi nào bạn có thể chạm tay vào cái đề tài đấu thầu đâu bạn nhé. Và cũng chính vì vậy, tôi biết có nhiều đồng nghiệp của tôi, công trình của họ thừa sức đăng tải trên các báo uy tín thế giới nhưng họ chẳng bao giờ đăng vì nó chẳng giúp gì cho họ mà chỉ làm tổn hao thời gian và công sức. Đắc biệt là khi vợ con họ còn đang phải sống trong khu nhà trọ hay tỏng ngôi nhà cấp 4 cũ kĩ. Tôi thấy nữa là, một phó giáo sư về công nghệ sinh học phân tử ngôi kêu: thầy có bốn năm mươi bài báo quốc tế, đã hướng dẫn hơn chục nghiên cứu sinh tốt nghiệp nước ngoài, còn hướng dẫn hằng hà sa số thạc sỹ trong nước, vậy mà mãi nó chẳng phong giáo sư cho thầy, năm nào hồ sơ gửi đi rồi lại gửi đi.
Võ Xuân Hà
Theo quan điểm cá nhân tôi cho rằng điều cần làm bây giờ là phải thể chế hóa chính sách đối với việc Nghiên cứu khoa học. Đề nghị Nhà nước bổ sung cho các trường, viện... một nội dung chi dành cho nghiên cứu khoa học, trong đó phân định rõ ràng chính sách đối với đẳng cấp của các tạp chí, chính sách mua quyền truy cập vào các nguồn dữ liệu, tạp chí, sách nghiên cứu quốc tế, chi cho các nhà khoa học đi tham dự các Hội nghị khoa học trong và ngoài nước... Đồng thời, khuyến khích các trường, viện... sử dụng kinh phí tự có để lập quỹ tạo điều kiện hỗ trợ các cá nhân thuộc đơn vị mình tham dự các Hội nghị quốc tế, đăng bài... Sau đó 2 năm, đánh giá lại hiệu quả để điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Song song với việc này, đề nghị trong các tiêu chí đánh giá, cần đề cao hơn nữa việc công bố trong các tạp chí uy tín, với cách làm gần như là đánh đồng bài báo khoa học đăng ở tạp chí khoa học trong nước và các bài báo công bố trong các tạp chí uy tín thế giới đang làm hạn chế việc này. Ở các nước tiên tiến, việc tích lũy công trình được tính điểm trong hệ thống đánh giá chính thức là trách nhiệm hàng năm của lực lượng nghiên cứu sinh (khi xét học bổng) cũng như của toàn thể lực lượng Giảng viên, GS, PGS... Tất nhiên là các cơ sở giáo dục, nghiên cứu phải được bố trí ngân sách và được nhận tài trợ cho công việc này. Đây là một trong những tiêu chí để các cơ sở đào tạo, nghiên cứu được xét cấp kinh phí hàng năm... Chúng ta cũng đừng quá tự ti cho rằng các nhà khoa học Việt Nam chưa đủ trình độ để công bố công trình nghiên cứu của mình trên các hội thảo quốc tế, tạp chí quốc tế như ý kiến của một bạn nào đó. Chỉ cần chúng ta thực sự nghiên cứu và có kết quả, thì biết cách viết, cách gửi bài nữa là đã có thể có công bố... vì tạp chí quốc tế (được công nhận trong từng lĩnh vực) cũng có nhiều mức độ khác nhau, hội thảo khoa học cũng vậy. Phải có bước ban đầu rồi chúng ta sẽ dần trưởng thành hơn, sẽ viết được bài công bố trong các tạp chí có uy tín hơn... Tóm lại, cần phải có cơ chế để cho nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và công bố công trình quốc tế. Chúng tôi không thể bỏ tiền túi (vốn đã rất eo hẹp) để làm các việc này được ạ.
Lang Thang
Việt Nam là nước có nhiều thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư nhất khu vực Đông Nam Á, thuộc hàng TOP TEN của Châu Á nhưng các sáng chế, phát minh, nghiên cứu khoa học lại thuộc loại kém nhất khu vực Đông Nam Á (có lẽ chỉ hơn Lào, Campodia, Myanma) chứ chưa nói đến thế giới làm gì. Các Giáo sư, Tiến sĩ Việt NAm hãy nhìn lại bản thân mình xem có xứng đáng với tên gọi "nhà khoa học" không hay chỉ có cái bằng cấp loè thiên hạ.
Vũ Đông
Việc số lượng các bài báo quốc tế ít hay nhiều tùy thuộc vào chất lượng của bài báo và phụ thuộc vào công trình đó có muốn công bố hay không. Đơn vị ở Huế hiện cơ sở rất nghèo nàn và thiếu thốn rất nhiều. Nhưng không phải là không có các bài báo quốc tế được đăng, ngược lại có nhiều là đằng khác. Đã làm khoa học thì dù ở hoàn cảnh nào vẫn có thể làm được, chỉ trừ khi không đủ quyết tâm và sự khéo léo thôi. Một vấn đề cần được khắc phục và quan trọng đối với cách nghĩ của tôi là nên tạo điều kiện để có mối liên kết chặt giữa các doanh nghiệp và những người làm khoa học, các tổ chức đầu tư và sinh viên. Vì đơn giản ta có 2 vấn đề sau: Người làm khoa học thì thiếu thốn không biết đi đâu để tìm tài trợ để phát triển công trình của mình. Phía doanh nghiệp thì không biết những người làm khoa học họ làm ra những sản phẩm hay kết quả gì và có đáng tin cậy hay không. Nên 2 cái mâu thuẫn này rơi vào một vòng luẩn quẩn vẫn chưa giải quyết được.
Lê Trọng Thịnh
Theo tôi, nguyên nhân chính của việc nhiều nhà khoa học Việt Nam không có công trình đăng trên tạp chí khoa học quốc tế là do hạn chế về ngoại ngữ. Điều này có nhiều nguyên nhân, song phải kể đến nguyên nhân khách quan từ sự phát triển giáo dục của đất nước trong thời gian qua. Bên cạnh dó, viên chức - nhà khoa học không thể hy sinh lợi ích gia đình. Cụ thể, để có được công trình nghiên cứu tầm cỡ thế giới, nhà khoa học phải tiêu tốn rất nhiều thời gian, sức lực và thậm chí là tiền của ... Tuy nhiên, cái mà họ thu lại chủ yếu chỉ có giá trị tinh thần. Tôi muốn nhấn mạnh điều này vì trong rất nhiều trường hợp, nhà khoa học không nhận được sự hỗ trợ tương xứng về mặt tài chính. Trong khi đó, mọi chi phí cho gia đình như ăn uống, đi lại, học phí cho con cái,... đặc biệt là sự tích góp để mua sắm nhà cửa lại không thể thu vén trong "lương". Vì vậy, họ đành phải tranh thủ "vắt sức" để "làm thêm"... Nói khác đi, sức lực và thời gian đều hữu hạn. Trong thực tế hiện nay ở Việt Nam, nhiều viên chức - nhà khoa học chỉ cố gắng hoàn thành "nghĩa vụ nghiên cứu khoa học" của mình mà thôi ...
Kevin Thái
Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước ở Việt Nam được cấp kính phí rất lớn, bình thường là 2 tỷ còn không thì cũng tầm từ 3 đến 5 tỷ nhưng sản phẩm khoa học chỉ là những thứ giả dối (ngồi trên bàn đánh máy tính một lúc là xong). Nói thật, 70% giáo sư, phó giáo sư và tiến sỹ ở Việt Nam không có khả năng viết báo bằng tiếng Anh. Trong số đó, quá nhiều người viết báo tiếng Việt vẫn còn sai lỗi chính tả hay thậm chí còn không viết nổi một câu tiếng Việt hoàn chỉnh. Còn nội dung khoa học thì sao? Nếu những người từng quen đọc báo Quốc tế ISI mà đọc sang báo tiếng Việt thì thôi rồi, chẳng bao giờ thấy một thông tin khoa học gì cho ra hồn cả. Chán lắm khoa học Việt Nam ơi và cái chán đó là do chính sách.
Nguyễn Quốc Thông
Tôi nghĩ các luận điểm của tác giả đưa ra là khá hợp lý trong thời điểm của Việt Nam ở quá khứ và hiện tại. Và tôi cũng đồng tình với ý kiến về các nhà khoa học của Việt Nam hiện nay đang nặng về "cơm áo gạo tiền". Vì thế các đề tài dự án thường là chạy cho có để giải quyết vấn đề trên. Trong khi đó các đề tài nghiên cứu phải là thành công, dĩ nhiên là định lượng được chi phí luôn, chứ không được thất bại. Nhưng các đề tại cấp bộ, nhà nước và địa phương cũng không phải dễ lấy được đâu. Vài dòng cùng chia sẽ. Khôi hài, Việt Nam đâu đòi hỏi các nhà khoa học của mình phải sáng chế, phát minh những thứ hiện đại như Iphone Ipad ... Việt Nam chỉ cần họ đi sát với thực tế sản xuất ở Việt Nam, xem người lao động Việt Nam cần gì và giúp họ cải thiện công cụ để đưa ra những sản phẩm chất lượng hơn, giảm nhẹ gánh nặng lao động. Còn hiện nay là gì? Tất cả những thứ vô cùng đơn giản ấy, chúng ta đều phải mua của nước ngoài. Tại sao những thứ ra đời đến cả trăm năm như máy bay, xe hơi, tàu hỏa, đến nay ta vẫn không thể làm nổi, vậy các nhà khoa học ở Việt Nam đã và đang làm cái quái gì vậy?
Phan Quốc Nam
Tôi từng theo học ngành khoa học cơ bản. Nhận thấy đúng là việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học rất khó vì bản thân các đề tài trong lĩnh vực này là những vấn đề khó khăn, cần đầu tư nhiều thời gian, tiền của và trí tuệ. Nước ta còn nghèo nên việc đầu tư cho nghiên cứu với kinh phí lớn là bài toán khó, điều đó có thể mất 10 đến 20 năm và phải có đội ngũ các nhà khoa học giỏi cùng môi trường làm việc giàu tinh thần hợp tác. Trong khi Việt Nam thiếu cơ chế tạo môi trường giúp các nhà khoa học trẻ làm việc và khẳng định tài năng. Tôi biết ở một Viện Khoa học hàng đầu Việt Nam, những nhà khoa học trẻ tài năng khi xây dựng gia đình là họ bỏ ngay công việc nghiên cứu và chuyển sang làm công việc khác mới đảm bảo cuộc sống giúp vợ con. Ngồi nghĩ lại thì thấy các bạn hồi học cùng đại học với tôi có học lực xếp vào loại giỏi, giờ họ đều đang làm việc việc và nghiên cứu ở Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều nước phát triển khác. Thật lãng phí trí tuệ Việt Nam. Thực trạng nghiên cứu khoa học nước nhà nghĩ mãi vẫn chưa giải quyết được. Phát triển một ngành khoa học khó hơn việc xây các khu đô thị mới với những biệt thự sang trọng hay những dãy nhà chung cư cao tầng. Vậy tại sao các công trình xây dựng đó không thiếu tiền, còn kinh phí dành cho khoa học lại thiếu?. Người Việt quen làm mọi thứ như kiểu "mì ăn liền" rồi nên việc đầu tư khoa học mang tầm nhìn lâu dài là rất khó thực hiện. Bên cạnh đó, Việt Nam đầu tư cho khoa học theo kiểu các nước có viện nghiên cứu này thì mình cũng phải có. Cũng chỉ để oai mà thôi. Các viện khoa học Việt Nam như những "vườn hoa cây cảnh" vậy. Tôi có nhiều người bạn đang làm tại các viện nghiên cứu cuộc sống rất khó khăn, thu nhập quá thấp chỉ đủ ăn cơm bụi giá bình dân và luôn trong tình trạng ăn bữa nay lo bữa mai. Thiết nghĩ với điều kiện cuộc sống như thế thì làm sao đảm bảo giới khoa học chuyên tâm nghiên cứu, nếu cứ để tình trạng đó năm này sang năm khác, mọi tài năng và niềm đam mê đều tan biến hết. Làm khoa học chỉ là viễn cảnh xa vời và hình thức nên kết quả các công trình khoa học rốt cuộc chỉ là hình thức xếp vào ngăn tủ "ngắm cho đẹp". Thật lãng phí tiền của, tài năng và thời gian.
Nam Sinh
Đọc hết 2 bài của GS Nguyễn Văn Tuấn tôi thấy mấu chốt của vấn đề đã được mở ra, Nhà nước nên có chính sách là khi đăng bài trên tạp chí có uy tín, có mức phí bao nhiêu thì nhà nước chi trả gấp 3 hay gấp 5 mức phí đó. Như vậy mới kích thích các nhà khoa học đăng bài được.
Nguyễn Quang Hưng
Khoa học Việt Nam của mình rồi cũng chẳng bao giờ tiến bộ được đâu bởi vì: - Không nhìn thẳng vào sự thật và căn bệnh của mình và luôn bào chữa. - Không xác định được căn nguyên của sự việc. - Không dám cải cách và tự vỗ về mình kiểu AQ. - Nếu thấy sự việc dở thì chỉ tán quanh chuyện đó chứ chả bắt đầu để làm. Nghiên cứu trong nước không hề kém cỏi mà nó chỉ quá kém cỏi mà thôi bởi vì: - Động lực để nghiên cứu không có, nó phục vụ cho cái gì? để đăng nhiều bài lên báo nước ngoài ư? để Việt Nam có thể tự hào khoe khoang ư? để làm gì chẳng ai biết cả. - Tổng quan nền khoa học nước nhà thì ai cũng biết rồi đó, nếu chỉ có một vài ngành đơn lẻ nào đó có một vài thành thành công nho nhỏ làm toáng lên nhưng mà tựu chung lại là không có nền tảng, không bền vững. - Nói làm người nghiên cứu không có tiền cũng đúng, hay vì không đủ sống cũng đúng nhưng hãy nhìn về bản chất chúng ta người Việt thực dụng nên không đủ sống thì kiếm sống cái đã. Người Châu Âu có nhiều nhà khoa học nghèo không đủ sống nhưng vẫn có những công trình để đời. - Nền khoa học Việt nam cũng có một vài cái tên lừng lẫy nhưng mà tựu chung lại để làm gì với nhữnG cái tên đó thì... Bởi vì công trình của các ông ấy làm ở nước ngoài phục vụ khoa học nước ngoài, khi đưa về nước chúng ta chỉ mang về những tượng đài sống, và như vậy thì không khác gì mang ô tô về mà chẳng có xăng để chạy. Có thể tóm lại thế này: Khoa học Việt Nam hiện giờ thì kém rồi, làm sao để cải tổ thì cái vấn đề chính lại không liên quan đến khoa học mà liên quan đến quản lý và sản xuất. Nếu coi khoa học như một nền sản xuất thì phải đầu tư dài hơi chứ không thể chỉ một ngày có được cừu Dolly như nước ngoài được. Cần phải có tầm nhìn và kế hoạch dài hạn đồng thời phải có được sự tham gia của tư nhân vào khoa học và quyết tâm của nhà nước, nhưng e rằng điều này là bất khả thi.
Vũ Thái Long
Vấn đề là ở ta vẫn thiếu những nghiên cứu có chiều sâu và có tính đột phá. Còn nhiều lắm các dạng thầy lấy đề tài của sinh viên xào nấu, nâng cấp thành đề tài khoa học. Ngày xưa đi học thấy đề tài: “Biến cứng bề mặt bằng con lăn" mắt tròn mắt dẹt. Bây giờ có thời gian học hỏi thấy những chuyện đó là trò trẻ, không là gì với thép hợp kim, nhiệt luyện. Nếu cứ ngủ quên như thế rồi thì không bap giờ phát triển được.Đơn cử cái cơ bản nhất là khoa học luyện kim. Cho tới bây giờ, mảng này VN hoàn toàn yếu kém về thực tế, không đi vào thực tiễn sản xuất được. Lỗi do ai?
Võ Quốc Hoàn
Tôi thấy vấn đề VN mình còn ít bài báo quốc tế là bởi cơ chế quản lí của nhà nước mình nặng về xin-cho và chạy chọt, không đánh giá trên cái thực chất. Ví dụ như ở các nước có khoa học phát triển, họ sẽ cấp kinh phí cho cá nhân hoặc tổ chức nào đó dựa trên Impact factor (là điểm tính cho các công trình nghiên cứu họ đã publish trong năm nghiên cứu trước đó). Còn nước ta thì sao? Tôi làm ở Viện nghiên cứu đầu ngành của một ngành lớn, thấy rằng, trước đây, nhà nước cấp kinh phí cho Viện tôi dưới 2 hình thức là đề tài cấp bộ và đề tài cấp cơ sở. Đề tài cấp cơ sở thì được Viện phân chia tương đối đều cho các bộ phận nghiên cứu chuyên sâu với tiêu chí ai cũng có việc làm. Nay thì đề tài cấp cơ sở bị cắt, chỉ còn lại đề tài cấp bộ, và phải đấu thầu. Đấu thầu là gì, là chạy chọt. Dù bạn có impac factor cao, dù bạn có hằng hà sa số những công trình quốc tế được công nhận mà ko có tiền chạy, chảng khi nào bạn có thể chạm tay vào cái đề tài đấu thầu đâu bạn nhé. Và cũng chính vì vậy, tôi biết có nhiều đồng nghiệp của tôi, công trình của họ thừa sức đăng tải trên các báo uy tín thế giới nhưng họ chẳng bao giờ đăng vì nó chẳng giúp gì cho họ mà chỉ làm tổn hao thời gian và công sức. Đắc biệt là khi vợ con họ còn đang phải sống trong khu nhà trọ hay tỏng ngôi nhà cấp 4 cũ kĩ. Tôi thấy nữa là, một phó giáo sư về công nghệ sinh học phân tử ngôi kêu: thầy có bốn năm mươi bài báo quốc tế, đã hướng dẫn hơn chục nghiên cứu sinh tốt nghiệp nước ngoài, còn hướng dẫn hằng hà sa số thạc sỹ trong nước, vậy mà mãi nó chẳng phong giáo sư cho thầy, năm nào hồ sơ gửi đi rồi lại gửi đi.
Dương Quang
Sao các ông lại cứ thắc mắc là tiến sĩ ở Việt Nam mình là giấy là... này nọ là không có công trình... rồi tổng thống người ta thì chỉ cần tốt nghiệp cỡ trung cấp trở lên là được không cần xa xỉ tới mấy cái bằng với học hàm học vị tiến sĩ? Các ông không hiểu ngay một điều rằng quốc gia nào lãnh thổ nào cũng có văn hóa của lãnh thổ và quốc gia đó nếu các ông muốn làm tổng thống hay tiến sĩ hay giáo sư hay công trình khoa học thì các ông đến nước người ta mà làm còn các ông đang sống ở Việt Nam nên các ông nhớ đó là văn hóa Việt Nam vì đơn giản đất nước người ta có tổng thống còn mình có tổng bí thư nó khác xa nhau các ông ơi sao mà cứ đi mà phàn nàn cái điều sao mình không giống người ta và phải đòi hỏi mình như người ta thì vô lý quá... xin các ông đấy!
ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ hoặc email
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
SGTT.VN - Vừa qua có một sự kiện đáng chú ý trong ngành đào tạo kỹ thuật viên chất lượng cao: nhóm tủ sách Nhất nghệ tinh của uỷ ban Tương trợ của Việt kiều Đức, quỹ Saigon Times và nhà xuất bản Trẻ đã phối hợp xuất bản quyển Chuyên ngành cơ khí. Với cuốn sách này, như cựu giám đốc Vinappro Lê Tùng Hiếu, người từng học ở Đức nhận xét, một thợ cơ khí ngồi ở đồng bằng sông Cửu Long có thể mở cửa hàng cơ khí, và biết kinh doanh thế nào. Nhưng giá trị cuốn sách không dừng lại ở đó.

Xem thêm »

17:48 ngày 20.05.2013
SGTT.VN - Những chiếc máy bay không người lái của Viện Công nghệ không gian (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) sẽ bay thử nghiệm ra biển với hành trình 100km.