Lý do bài báo khoa học bị từ chối & hệ quả
Kỳ 2: Cơ hội từ thất bại
Những bài học
SGTT.VN - Biết được lý do bài báo bị từ chối cũng là một cách học. Sau đây là vài bài học có thể rút ra:
|
Khuyết điểm phổ biến nhất khiến một bài báo khoa học bị từ chối là phương pháp nghiên cứu. Ảnh: TL
|
Thứ nhất là khi có ý tưởng làm nghiên cứu, cần phải chú trọng đến cái mới. Cái mới ở đây không chỉ về ý tưởng, mà có thể là mới về phương pháp nghiên cứu, mới về kết quả và cách trình bày, cách lý giải kết quả nghiên cứu. Rất nhiều nghiên cứu y khoa từ Việt Nam thiếu cái mới, vì chỉ lặp lại những gì người khác đã làm. Một số người chỉ muốn theo đuổi những đề tài dễ, vì hoặc là thiếu kinh phí, hoặc không dám mạo hiểm theo đuổi những đề tài gai góc. Lại có những người chỉ làm theo lối mòn, vì họ sợ làm cái gì mới sẽ bị thầy cô bác bỏ. Trong nhiều trường hợp, chính thầy cô cũng chỉ làm theo lối mòn, vì sợ hội đồng duyệt tài bác bỏ. Bản thân các thành viên trong hội đồng duyệt đề tài cũng quen với những ý tưởng nhỏ, chắp vá, hay thậm chí chưa có kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học, nên họ phải… bảo thủ. Trong cái vòng tròn luẩn quẩn như thế, rất khó để các nhà khoa học Việt Nam có công trình công bố trên các tập san quốc tế.
Thứ hai là cần chú trọng đến phương pháp nghiên cứu. Trong nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế và phương pháp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Thiết kế nghiên cứu không thích hợp, thì dữ liệu có thể không có giá trị khoa học cao, và không có cơ may công bố trên các tập san có uy tín. Chẳng hạn như một công trình nghiên cứu y khoa thiết kế theo mô hình có yếu tố thời gian và có nhóm chứng lúc nào cũng có giá trị khoa học hơn là một công trình không có nhóm chứng. Trong nghiên cứu y học, phương pháp sai thì kết quả cũng sai hay không có giá trị cao.
Thứ ba là cách trình bày. Bài báo khoa học là một văn bản khó hiểu, bởi văn phong thường được viết rất ngắn và cô đọng. Nhưng nếu tác giả chọn cách viết dài dòng như viết tiểu thuyết thì đó là một cách chuốc lấy thất bại. Điều này có ý nghĩa với chúng ta, vì người Việt hay chịu ảnh hưởng của thơ văn trong cách viết bài báo khoa học. Nhiều tập san khoa học trong nước có cách trình bày… chẳng giống ai, chẳng theo một thông lệ khoa học nào. Điều này làm cho người đọc cảm thấy những bài báo nghiên cứu trong nước rất hời hợt và thiếu tính khoa học. Còn các tập san khoa học quốc tế có quy định rất chặt chẽ về cách trình bày dữ liệu, cách viết, thậm chí cách trình bày tài liệu tham khảo. Nếu bài báo không tuân thủ theo các quy định của tập san thì chắc chắn sẽ bị từ chối.
Thứ tư là cần thạo tiếng Anh. Phần lớn (90%) các tập san quốc tế, dù là tập san ở các nước Bắc Âu hay châu Á – Thái Bình Dương đều sử dụng tiếng Anh. Có thể nói không ngoa rằng tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chung của cộng đồng khoa học. Đối với các nhà khoa học Việt Nam, tiếng Anh là một vấn đề lớn, vì nhiều nhà khoa học Việt Nam dù có thể đọc, nghe, viết bằng tiếng Anh, nhưng phần lớn chưa ở trình độ có thể viết một bài báo khoa học hoàn chỉnh. Ngay cả những nghiên cứu sinh đã theo học các đại học nói tiếng Anh ở nước ngoài cũng chưa đủ khả năng tự soạn một bài báo khoa học. Do đó, các đại học, viện nghiên cứu nên tổ chức nhiều khoá học về cách viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, tiếng Anh không phải là lý do chính để từ chối một công trình nghiên cứu có chất lượng cao. Ngược lại, tiếng Anh “văn hay chữ tốt” cũng không thể bù đắp được những khiếm khuyết về cái mới và phần thiết kế cũng như phương pháp nghiên cứu.
Bị từ chối là một cơ hội!
Theo một phân tích mới đây, những bài báo bị từ chối sau khi được chỉnh sửa lại thường được công bố trên những tập san có ảnh hưởng cao. Do đó, không nên buồn khi thấy công trình của mình bị từ chối, mà nên xem đó là một cơ hội để làm tốt và hay hơn.
Các kết quả phân tích trên cho thấy khuyết điểm phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân thông thường dẫn đến quyết định từ chối một bài báo khoa học nằm ở phần phương pháp. Điều này không khó hiểu, bởi nếu phương pháp sai thì kết quả sẽ sai, các bàn luận và kết luận cũng có thể sai. Mà sai sót về phương pháp thì không sửa được (vì nghiên cứu đã làm rồi). Không có tập san khoa học nào muốn công bố một bài báo khoa học nhiều sai sót, nên quyết định từ chối những bài báo do khiếm khuyết về phương pháp là điều hoàn toàn có thể đoán được.
Bộ Khoa học và công nghệ vừa ra chính sách mới, theo đó công bố quốc tế được lấy làm một thước đo năng lực nghiên cứu khoa học. Chiến lược khoa học 2011 – 2020 viết rằng “tăng số lượng công bố quốc tế từ các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước trung bình 15 – 20%/năm”, “đến năm 2020 hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới”. Đây là một thách thức đáng kể cho giới khoa học Việt Nam, bởi càng ngày việc công bố khoa học càng khó khăn vì sự cạnh tranh toàn cầu giữa các nhà khoa học để có tiếng nói.
Trong khi chúng ta có kế hoạch gia tăng số ấn phẩm khoa học, thì các nước trong vùng đã bỏ xa chúng ta. Năm 2012, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 1.630 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế – chỉ bằng 30% của Thái Lan, 22% của Malaysia, 17% của Singapore. Những con số này cho thấy năng suất khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn, nhất là trong điều kiện 9.500 giáo sư và phó giáo sư cùng 24.000 tiến sĩ!
Còn một thực tế đáng báo động khác: vấn đề lệ thuộc. Phần lớn (70%) những công trình của Việt Nam là do hợp tác với nước ngoài. Có lĩnh vực như y khoa, tỷ lệ hợp tác với nước ngoài lên đến 80%. Hợp tác khoa học là điều cần thiết và cần khuyến khích, nhưng nếu 80% công trình nghiên cứu là do hợp tác thì có thể xem đó là một chỉ số về nội lực yếu kém, hay nói thẳng hơn là lệ thuộc. Điều này cho thấy ngay từ bây giờ Việt Nam cần phải xây dựng nội lực khoa học tốt hơn để cạnh tranh với các nước trong vùng và trên thế giới.
Để xây dựng nội lực, cần có những chính sách lâu dài hơn và có hệ thống hơn liên quan đến con người. Rất cần lập những quỹ dành cho các nhà khoa học trẻ (mới xong tiến sĩ) để gửi họ ra nước ngoài tiếp tục nghiên cứu trong giai đoạn hậu tiến sĩ. Đối với những nhà khoa học có triển vọng (không khó nhận ra những người này), cần có những tài trợ đặc biệt để họ đủ lương bổng mà không phải lo đến chuyện “cơm áo gạo tiền” hay phải chạy sô “xoá đói giảm nghèo”.
Nói tóm lại, chúng ta cần phải lập ra quỹ dành cho những nhà khoa học tinh hoa và cho phép họ độc lập trong nghiên cứu và sử dụng ngân sách khoa học. Khoa học bắt đầu từ con người có tài, và không có lý do gì mà xã hội không nuôi dưỡng những nhân tài.
Nguyễn Văn Tuấn