sgtt.vn, 19.05.2013  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 23.01.2013, 07:47 (GMT+7)

Lý do bài báo khoa học bị từ chối & hệ quả

LTS: Gần đây, vấn đề tụt hậu khoa học đã thu hút sự chú ý của nhiều diễn đàn báo chí. Nhiều ý kiến xoay quanh số ấn phẩm khoa học của Việt Nam trên các tập san khoa học quốc tế còn thấp, trong khi Việt Nam có nhiều giáo sư và tiến sĩ hơn các nước trong vùng Đông Nam Á. Một trong những lý do các nhà khoa học Việt Nam ít có công bố quốc tế là vì các công trình của họ bị các tập san khoa học từ chối.

Là người bình duyệt và biên tập cho một số tập san khoa học qua nhiều năm(*), tôi thu thập được một số kinh nghiệm và thông tin về số phận những bài báo khoa học bị từ chối. Trong bài này, tôi sẽ giải thích và phân tích những lý do bài báo khoa học bị từ chối, và hy vọng góp một phần vào việc nâng cao sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế trong tương lai.

Kỳ 1: Vì sao bị từ chối?

SGTT.VN - Ở nước ngoài, người ta không có “nghiệm thu” công trình khoa học như ở Việt Nam; thay vào đó, các cơ quan tài trợ đánh giá sự thành công của một công trình nghiên cứu khoa học qua những bài báo đã được công bố trên các tập san có uy tín trên thế giới. Tốt hơn nữa, nếu nghiên cứu có ứng dụng, thì sản phẩm thực tế hay bằng sáng chế là thước đo quan trọng để đánh giá công trình nghiên cứu.

Một bài báo khoa học cần cân bằng cả hai yếu tố: tính khoa học và nghệ thuật viết. Ảnh: TL

Nhưng trong thực tế, phần lớn những bài báo khoa học bị từ chối công bố với tỷ lệ dao động trong khoảng 50 – 99%, tuỳ theo tập san và thời gian. Tập san có uy tín cao thường có tỷ lệ từ chối cao. Những tập san lâu đời và có ảnh hưởng lớn trong khoa học như Science, Nature, Cell, hay trong y khoa như New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA, có tỷ lệ từ chối đến 90 – 99%.

Quyết định từ chối thường xuất phát từ ban biên tập và các chuyên gia bình duyệt. Nhưng rất nhiều trường hợp tác giả không biết tại sao bài báo của mình bị từ chối, vì ban biên tập không giải thích lý do cụ thể.

Quy trình xuất bản

Khác với tạp chí phổ thông (scientific magazine), tập san khoa học (scientific journal) là những diễn đàn khoa học có chức năng chính là chuyển tải và chia sẻ thông tin khoa học trong giới nghiên cứu khoa học, nên văn phong và cách trình bày rất đặc thù và có khi khó hiểu. Các tạp chí không có cơ chế bình duyệt (peer review), nhưng các tập san khoa học nghiêm túc thì có cơ chế bình duyệt mà theo đó bài báo trước khi được công bố phải qua vài giai đoạn kiểm tra và duyệt xét về ý tưởng, phương pháp, cách diễn giải.

Quy trình để xuất bản một bài báo khoa học cũng khá phức tạp. Đầu tiên là tác giả soạn bài báo khoa học và đệ trình đến một tập san. Ban biên tập khi nhận được nếu thấy chưa đạt yêu cầu sẽ từ chối công bố trong vòng một tuần; nếu thấy đạt yêu cầu và có tiềm năng, họ sẽ gửi cho hai hoặc ba chuyên gia bình duyệt. Chỉ một trong ba chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối thì khả năng bài báo sẽ bị từ chối lên rất cao. Có nhiều trường hợp bài báo phải trải qua ba lần bình duyệt, và tốn rất nhiều thời gian (trên 12 tháng) nhưng cuối cùng vẫn bị từ chối!

Nhìn qua quy trình trên, dễ dàng thấy bài báo khoa học bị từ chối ở ba giai đoạn: ban biên tập, bình duyệt, và tái bình duyệt. Một nghiên cứu trên tập san British Medical Journal (một trong những tập san y khoa hàng đầu thế giới) cho thấy trong giai đoạn một (tức ban biên tập), tỷ lệ từ chối là khoảng 50%, ở giai đoạn hai khoảng 45%, còn ở giai đoạn ba là tái bình duyệt, xác suất bị từ chối khoảng 5%.

Lý do từ chối: ban biên tập

Lý do từ chối bài báo trong giai đoạn 1 có thể liệt kê vào ba nhóm chính:

Không thích hợp cho tập san là lý do ban biên tập từ chối rất nhanh. Tập san khoa học có đẳng cấp riêng trong chuyên ngành, và đẳng cấp này có thể phân biệt qua hệ số ảnh hưởng (impact factor, viết tắt là IF). Tập san có IF cao cũng có nghĩa là có ảnh hưởng lớn, và những tập san này chỉ công bố những công trình quan trọng. Nếu công trình nghiên cứu không thuộc vào loại “đột phá” thì không nên gửi cho các tập san như Science và Nature, mà nên xem xét đến các tập san chuyên ngành.

Thiếu cái mới: nói chung, ban biên tập ưa chuộng công bố những nghiên cứu có cái mới về phương pháp, cách tiếp cận, kết quả, cách diễn giải... Những công trình nghiên cứu “me too” (tức lặp lại hay bắt chước nghiên cứu trước đây) khó có cơ hội công bố trên các tập san có tiếng. Những nghiên cứu mà câu trả lời hay kết quả chẳng ảnh hưởng gì đến chuyên ngành, chẳng gây tác động gì đến chính sách công hay thực hành lâm sàng cũng khó có cơ hội được công bố.

Vấn đề ngôn ngữ: có khá nhiều bài báo có nội dung tốt, nhưng vì cách trình bày luộm thuộm, thiếu tính logic, vẫn bị từ chối. Một số bài báo bị từ chối vì tiếng Anh quá kém, thậm chí sai chính tả.

Lý do từ chối: chuyên gia bình duyệt

Các chuyên gia bình duyệt là những người bán nặc danh, chỉ có ban biên tập mới biết họ là ai. Chuyên gia bình duyệt biết tác giả, nhưng tác giả không biết các chuyên gia này là ai. Do đó, tác giả phải hết sức cẩn thận và khách quan trong cách trình bày bài báo, hoặc trả lời bình duyệt sao cho lịch sự, không tấn công cá nhân, để không gây ấn tượng xấu với các đồng nghiệp bình duyệt.

Các chuyên gia bình duyệt sẽ có 1 – 3 tháng để báo cáo cho ban biên tập, và trong báo cáo có phần đề nghị chấp nhận hay bác bỏ bài báo. Trong báo cáo đó, các chuyên gia bình duyệt phải nói lý do tại sao họ đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối bài báo. Xem qua những lý do mà các chuyên gia bình duyệt từ chối bài báo có thể tóm lược trong bốn nhóm chính:

Tầm quan trọng và thiếu cái mới trong công trình nghiên cứu là lý do hàng đầu (80% bài báo bị từ chối với lý do này). Thiếu tính ứng dụng cũng là một lý do để từ chối.

Phương pháp: một nghiên cứu về lý do từ chối trên 25 nhà khoa học từng đoạt giải Nobel Y sinh học, 67 tổng biên tập và 50 chuyên gia bình duyệt của các tập san y sinh học cho ra kết quả: 71% bài báo bị từ chối là do thiết kế nghiên cứu có vấn đề. Những khiếm khuyết về cách tiếp cận, thiết kế nghiên cứu, phương pháp đo lường, quy trình thực hiện, phân tích dữ liệu... thường được nhắc đến như là những lý do từ chối.

Về trình bày dữ liệu, có ba nguyên nhân chính dẫn đến bài báo bị từ chối đăng: trình bày dữ liệu không đầy đủ (32%), có mâu thẫn giữa các dữ liệu trình bày (25%) và không cung cấp đầy đủ chi tiết về phương pháp nghiên cứu (25%). Về cách viết, các khoa học không ưa cách viết sử dụng từ ngữ hoa mỹ và sáo rỗng, dùng những từ “đao to búa lớn”. Khoảng 43% bài báo với những từ ngữ như văn chương chính trị bị từ chối công bố. Ngoài ra, diễn đạt ý tưởng không khúc chiết (21%) và câu văn thừa (11%) cũng là những nguyên nhân bị từ chối.

Địa phương chủ nghĩa?

Phần lớn các tập san khoa học mang tính quốc tế, hiểu theo nghĩa ban biên tập nhận bài từ tất cả các nhà khoa học trên thế giới. Câu hỏi đặt ra là có sự khác biệt nào về tỷ lệ từ chối giữa các nước hay không.

Theo thống kê của các tập san y khoa lớn như New England Journal of Medicine, JAMA, không có khác biệt lớn về tỷ lệ từ chối giữa các nước Mỹ (hay nói tiếng Anh) và ngoài Mỹ. Tuy nhiên, đối với các tập san chuyên ngành thì có sự khác biệt lớn, chẳng hạn như tập san Circulation Research (chuyên về tim mạch, IF~10), mỗi năm nhận được khoảng 2.000 bài báo từ khắp các nước, nhưng chủ yếu từ Mỹ (44%), Âu châu (31%), Nhật (6%), và Á châu (9%, không kể Nhật). Tỷ lệ từ chối chung là 85%, không khác mấy so với tỷ lệ từ chối các bài báo từ Hàn Quốc (88%), Đài Loan (91%). Riêng Trung Quốc, có đến 99% bài báo gửi cho tập san Circulation Research bị từ chối vì chất lượng quá kém và tiếng Anh chưa đạt.

Một phân tích thú vị khác của tập san American Journal of Roentgenology (IF ~4) cho thấy trong thời gian 2003 – 2005, tập san này nhận được 5.242 bài báo khoa học từ khắp nơi trên thế giới, chủ yếu từ Mỹ (43%), Nhật (11%), Hàn Quốc (9%), Đức (5%), và Canada (4%). Tỷ lệ bài báo được chấp nhận cho đăng dao động lớn giữa các nước: trong số 2.252 bài báo từ Mỹ, 72% được chấp nhận cho công bố, và trong tổng số 2.990 bài báo ngoài Mỹ, tỷ lệ được chấp nhận là 60%. Nước có tỷ lệ chấp nhận thấp nhất là Ấn Độ, với 27%. Phân tích chi tiết theo ngôn ngữ mẹ đẻ, thì trong số 2.684 bài báo từ các nước nói tiếng Anh, tỷ lệ chấp nhận cho công bố là 71%. Trong số 2.558 bài báo xuất phát từ những nước không nói tiếng Anh, tỷ lệ chấp nhận chỉ 60%.

Nguyễn Văn Tuấn

(*) Tác giả là nhà khoa học y khoa chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương, hiện là giáo sư thỉnh giảng cao cấp tại đại học New South Wales (Úc), từng làm giáo sư thỉnh giảng tại Mỹ, Anh, Hong Kong. Ông đã có gần 150 công trình nghiên cứu khoa học.

  
  
Đánh giá bài viết:  

(170 điểm,34 lần)

Các ý kiến (31)
Đoàn Linh Phi
Mọi người trao đổi xôm tụ quá! Xin được phép góp một ý nhỏ: Nhà khoa học ngoài việc nghiên cứu còn phải biết tiếp thị công trình của mình bán công trình để xã hội được hưởng lợi đồng thời làm giàu cho bản thân. Tất nhiên sẽ còn liên quan đến cơ sở hạ tầng và cơ chế chính sách ... nên nếu anh cần gì anh phải chứng minh được hiệu quả của công tác nghiên cứu đem lại thì anh sẽ có được sự đầu tư. Không cần nhà nước đầu tư, doang nghiệp có thể đầu tư cho nhà khoa học nếu họ thấy có lợi. Đầu tư vào nghiên cứu khoa học và công nghệ là lĩnh vực đầu tư hiệu quả nhất. Vậy mà các anh vẫn nghèo, không đủ tiền để đăng bài trên các tạp chí thì phải xem lại có phải các anh đang làm khoa học đúng hướng hay không. Phải thừa nhận những yếu kém về khoa học-công nghệ hiện tại của nước nhà thì mới tiến bộ được. Trong cái yếu kém hiện tại, có cả cái do chính sách và có cả cái do nguồn nhân lực. Quan trọng nhất là người Bộ trưởng và Thủ tướng phải nhận ra điều đó để làm lại hoặc thay đổi chính sách cho khoa học và đào tạo người làm khoa học. Ngược lại, bản thân các nhà khoa học đã xác định theo nghiệp này cũng phải thừa nhận những yếu kém của mình để luôn luôn tìm cách thay đổi và tạo ra những công trình, sản phẩm nghiên cứu có chất lượng được đăng trên các tạp chí uy tín trên thế giới. Trong khi các trường đại học của Trung Quốc và trên thế giới đang giảm sự phụ thuộc vào nguồn tài chính của Chính phủ bằng cách tạo ra những sản phẩm, những bằng sáng chế, những bài báo (thậm chí có nhiều trường còn mang lại lợi nhuận) thì hầu như toàn bộ các trường đại học ở VN vẫn phải phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước. Mạo muội trao đổi, có gì không đúng, mong mọi người trao đổi thêm. Xin cảm ơn.
An Trân
Có một sự thật mà nhiều người né tránh không nói ra, vì tế nhị, hoặc vì sĩ diện. Đó là trình độ của đội ngũ khoa học nước ta NHÌN CHUNG còn kém so với nước ngoài. Kém về ngoại ngữ nên không đọc được tài liệu nước ngòai và không viết được bài báo bằng tiếng nước ngoài đã đành, mà còn kém về KIẾN THỨC, về PHƯƠNG PHÁP NCKH ! Tôi là người trong cuộc (PGS.TS), tôi biết rõ "nội tình" trong giới nghiên cứu, nhất là khối KHXH-NV. Tôi cũng tự kiểm điểm bản thân tôi cũng còn kém nhiều thứ, cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, chứ không phải chỉ biết phê bình người khác mà thôi. Muốn khắc phục tình trạng hiện nay, ngoài những giải pháp mà nhiều người đã đề ra, tôi nghĩ cần phải thêm vào việc NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ cho đội ngũ các nhà khoa học VN nữa !
Quang Vinh
Vấn đề cốt lõi là nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học và chuẩn hóa trình độ nghiên cứu của những nhà nghiên cứu. Đặc biệt là có chế độ đãi ngộ các lưu học sinh về nước làm việc. Thực tế là đa phần các nghiên cứu sinh được đào tạo và cấp bằng trong nước không có khả năng tìm và đọc tài liệu nước ngoài tốt, càng ít người có khả năng viết báo đăng tạp chí chuyên ngành nước ngoài (mà các chính sách trong nước cũng không khuyến khích hay đãi ngộ đặc biệt gì, chưa kể có thể có rắc rối). Việc mua quyền download full cho các viện nghiên cứu nên xem xét tránh lãng phí trong tình hình không có kinh phí để đãi ngộ con người. Những nghiên cứu sinh từ nước ngoài về có thể tự xoay sở được để tìm tài liệu (nếu không phải mất thời gian lo bon chen kiếm sống). Các cơ sở nghiên cứu trong nước có thể xin các nguồn tài liệu miễn phí của các tổ chức quốc tế dùng hỗ trợ các nước nghèo. Trong 7 năm du học nước ngoài tôi có hơn 10 bài báo đăng tạp chí chuyên ngành thế giới trong đó 8 bài là tác giả chính, có bài đăng trong New England Journal of Medicine. Từ khi về nước 4 năm nay tôi mất tích khỏi giới nghiên cứu thế giới, mọi người không cần hỏi tại sao.
Võ Tuấn Phương
Tôi xin phép được có đôi lời trao đổi với GS Nguyễn Văn Tuấn – người mà tôi rất ngưỡng mộ về trí tuệ và tinh thần khoa học. Ở nước ta, việc cập nhật các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới đang vướng phải khó khăn. Đó chính là vấn đề bản quyền của các bài báo. Hầu hết các bài báo khoa học đều phải trả phí để được tải về. Có một chân lý bất cứ người làm khoa học nào cũng biết, đó là "khoa học luôn có tính kế thừa và phát triển". Thế hệ sau thừa hưởng, phát huy và sáng tạo dựa trên những thành quả nghiên cứu đi trước. Điều này giúp định hướng đúng cho hướng nghiên cứu, đồng thời tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc rất nhiều. Nói một cách nôm na, khi cần tính toán trọng lực, chúng ta không cần phải ra vườn ngắm quả táo của Newton rơi, rồi tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn; thay vào đó, chúng ta chỉ cần áp dụng định luật và tính toán. Nhà khoa học muốn nghiên cứu, sáng tạo cái mới hoặc muốn áp dụng một thành tựu khoa học, ít nhất họ phải được cập nhật đẩy đủ các thông tin khoa học liên quan, biết thế giới đang làm gì và đã giải quyết được gì, còn những khúc mắc gì? Từ đó mới có hướng nghiên cứu cho riêng mình, tránh hiện tượng nghiên cứu "lần mò" gây nhiều tốn kém, rồi đến khi công bố kết quả, có khi vô tình trùng với một nghiên cứu đã có sẵn trước đó trên thế giới. Một bài báo tham khảo có giá trung bình từ vài đến vài chục USD, trong khi một công trình nghiên cứu của nhà khoa học phải tham tham khảo từ rất nhiều bài báo. Nhẩm tính, mỗi nhà khoa học phải trả một khoản phí không nhỏ cho việc nghiên cứu của mình. Trong thời buổi bão giá, tất cả chúng ta đều phải lo chuyện cơm áo, gạo tiền, thì liệu đây có phải là một trong số các lý do làm giảm động lực nghiên cứu. Nên chăng, Nhà nước ta có chính sách hoặc nguồn quỹ hỗ trợ cho các nhà khoa học về vấn đề này. Một số trường đại học trên thế giới đang hỗ trợ rất tốt việc trên. Nhà trường mua bản quyền và bất cứ ai truy cập từ địa chỉ IP của trường đều được miễn phí tải báo. Khi kết quả khoa học được công bố, đối tượng hưởng lợi thứ hai (sau nhà khoa học) chính là nhà trường. Bằng chứng là một trong các chỉ tiêu xếp hạng trường đại học trên thế giới là có các công trình khoa học được công bố.
Nguyễn Thị Hà
Cám ơn tòa soạn đã đăng bài viết rất thẳng thắn này. Ở Việt Nam chúng ta, đa số thạc sỹ, tiến sỹ khi học phải bỏ ra rất nhiều tiền để lấy cái bằng, rồi về bỏ tủ, hoặc lấy cái đó để đưa vào hồ sơ đề bạt chức vụ, chứ rất ít rất ít người có đề tài khoa học phục vụ đời sống. Đây chính là cái nút thắt cho sự phát triển của VN....biết rồi khổ lắm nói hoài?
Đỗ Diệu An
Đúng vậy, bài viết của anh Tuấn rất hay, Ở nước ta rất nhiều tiến sĩ, thạc sĩ nhưng chẳng hiểu họ nghiên cứu gì, có chăng bằng cấp ở ta để dễ thăng tiến và kiếm tiền vì lương đi đôi với bằng cấp mà.
Nguyễn Văn Giáp
Sao các ông lại cứ thắc mắc là tiến sĩ ở Việt Nam mình là giấy là... này nọ là không có công trình... rồi tổng thống người ta thì chỉ cần tốt nghiệp cỡ trung cấp trở lên là được không cần xa xỉ tới mấy cái bằng với học hàm học vị tiến sĩ? Các ông không hiểu ngay một điều rằng quốc gia nào lãnh thổ nào cũng có văn hóa của lãnh thổ và quốc gia đó nếu các ông muốn làm tổng thống hay tiến sĩ hay giáo sư hay công trình khoa học thì các ông đến nước người ta mà làm còn các ông đang sống ở Việt Nam nên các ông nhớ đó là văn hóa Việt Nam vì đơn giản đất nước người ta có tổng thống còn mình có tổng bí thư nó khác xa nhau các ông ơi sao mà cứ đi mà phàn nàn cái điều sao mình không giống người ta và phải đòi hỏi mình như người ta thì vô lý quá! Xin các ông đấy!
Võ Lập Quốc
Tôi đồng tình với ý kiến của Nguyễn Vũ Hoàng, tôi cũng là một người tốt nghiệp tiến sỹ kinh tế ở một nước có nền kinh tế phát triển. Hào hứng về nước làm đúng công việc nghiên cứu, nhưng than ôi làm người nghiên cứu khổ sở vô cùng. Nói ở nước ta đấu thầu cạnh tranh bình đẳng trong nghiên cứu khoa học ư? không có đâu. Đề tài trình đến những người không có chuyên môn xét duyệt. Ví dụ, Tôi đã từng đăng ký một đề tài cấp Bộ để làm tiếp ý tưởng mà luận án tiến sỹ của tôi chưa làm, song bị họ xếp vào sọt rác và chọn những đề tài với cái tên chẳng giống ai và kết quả thì nếu ai đó có lòng tự trọng mà đọc thì chắc nhồi máu cơ tim mất. Dã từng tham gia đấu thầu nhiều đề xuất nghiên cứu nhưng rồi chuyện quân xanh quân đỏ đã làm tôi mất hết niềm tin. Đề xuất của mình rất hay và chắc sẽ có bài đặng tạp chí quốc tế nhưng rồi họ lại chọn những đề xuất mà kết quả đầu ra chẳng có gì và thậm chí là có những nội dung họ hiểu sai về bản chất. Bạn cứ đi đấu thầu đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước thử xem. Nếu không có quan hệ và không có phần trăm thì tôi tin chắc 99% là bạn trượt. Thật là sự xuống cấp kinh khủng và nhiều lúc cảm thấy bất lực, bất lực mà nhìn sự đi xuống của khoa học nước nhà.
Trung Tín
Sao cứ nhất thiết phải công bố quốc tế làm gì. Sức mình tới đâu thì đá sân đó thôi. Ở Việt Nam hiện có rất nhiều các tạp chí chuyên ngành đến không chuyên ngành, phục vụ nhiều đối tượng bạn đọc… Do vậy, nếu công trình đăng trên tạp chí Việt Nam cũng là điều tốt, hơn thế nữa những công trình xã hội học nghiên cứu về Việt Nam đăng ở tạp chí trong nước là điều dễ hiểu.
Trần Thị Lan Nhung
Tôi cho rằng cơ chế và quy trình làm việc khác nhau cũng hạn chế việc các tác giả công trình khoa học trong nước có bài đăng trên các tạp chí học thuật quốc tế. Để tạo điều kiện cho tác giả trong nước góp thêm nhiều tiếng nói ở môi trường học thuật quốc tế, theo tôi cần nhanh chóng thay đổi thói quen và cách thức làm việc lâu nay của các tạp chí khoa học trong nước, cũng như nỗ lực áp dụng các tiêu chuẩn làm tạp chí học thuật phổ biến ở mức độ quốc tế. Nguyên tắc làm khoa học ở đâu cũng thế, chỉ khi nào đứng cùng một nền tảng kiến thức và ngôn ngữ, cùng một cách thức làm việc, thì mới có thể cùng tham gia vào thảo luận.
Thanh Xuân
Kinh nghiệm của tôi là biên tập viên tạp chí khoa học cho thấy rất nhiều trường hợp khi gửi bài tác giả không quan tâm đến việc có tuân theo văn phong, kiểu phông chữ, cách trích dẫn theo quy định đặc thù của tạp chí mình hướng đến hay không. Bên cạnh đó, quá nhiều bài báo trích dẫn rất ít các nguồn tài liệu, nếu trích dẫn cũng chưa phải là các nguồn tài liệu uy tín và chất lượng nhất. Tư duy của các bài báo như thế vẫn chủ yếu bám vào mô hình quen thuộc của thực trạng và giải pháp, hoặc là minh họa cho tính đúng đắn của chủ trương, chính sách mà ít mang tính phê phán, phản biện (ở đây tôi muốn nói đến phê phán với nghĩa là động lực cho phát triển). Khá nhiều bài yếu về logic khoa học, kém về khả năng khái quát thực tế, đặc biệt ít có tham khảo tới các nguồn tài liệu nước ngoài, ít bài viết nổi bật lên với cách tiếp cận mới, cách lí luận mới, và những khái quát sâu sắc. Nhưng chúng vẫn được chỉnh sửa và đăng vì nhiều lý do khác nhau. Tất cả dẫn đến kết quả không tốt như một số học giả nước ngoài từng nhận xét là đọc công trình của tác giả Việt Nam rất khó trích dẫn.
Nguyễn Vũ Hoàng
Theo tôi, để trả lời câu hỏi: “Tại sao nhà khoa học làm việc trong nước lại ít có công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí nước ngoài?", thì nhà nước ta cần có các hành động thiết thực, ví dụ như mua bản quyền tải báo từ các tạp chí thế giới. Điều này giúp tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi cho các nhà khoa học trong nước phát huy hết khả năng, phục vụ cho việc phát triển nền khoa học nước nhà. Tôi hiện công tác tại một trường đại học ở Pháp. Tôi nhận thấy việc kêu gọi như thế này vừa vô ích vừa gây lãng phí cho quốc gia. Nghiên cứu đăng trên một tạp chí phải tự tay trả tiền thì đăng có ích lợi gì. Chi phí cho một bài báo được đăng phải tiêu tốn từ 1000-3000E (tại Pháp thì trường đại học chi vì họ thừa tiền, không chi thì bị nhà nước thu lại). Hiện tại hơn 80% các bài báo đăng đều kém chất lượng và phi thực tế. Việc mua bản quyền download cũng không cần thiết. Chỉ cần tải trực tiếp trên trang web cá nhân của các nhà khoa học. Các nhà khoa học Việt Nam kêu ca rất nhiều nhưng đến khi cấp cho họ đầy đủ điều kiện thì cũng không thay đổi là mấy. Tôi có nhiều cộng sự Việt Nam và cuối cùng điều kiện vật chất cũng không giúp họ tạo ra được sản phẩm có ý nghĩa bởi họ thiếu cái "tâm", họ chỉ tìm kiếm tài chính để hầu bao mình đầy nhanh có thể chưa nói là có thêm cái marque: đi nghiên cứu nước ngoài, tham gia các hội thảo quốc tế. Làm khoa học nhưng phi thực tế, không có tầm nhìn chỉ biết kêu ca thì tốt nhất là dừng lại.
Minh Giang
Bài viết rất hay và sát thưc. Nhưng cũng cần lưu ý một vấn đề nữa là trình độ để đọc những bài báo đó và những dụng cụ được sử dụng cho nghiên cứu. Về đọc và hiểu báo nước ngoài tại Việt Nam còn chưa cao. Học tiếng Anh trong trường đại học chỉ mang tính tượng trưng. Rất ít sinh viên có thể đọc và hiểu được bài báo. Cần nâng cao trình độ tiếng Anh của giáo viên và sinh viên cộng với kết hợp mua cái account của các trang báo nghiên cứu khoa học nổi tiếng trên thế giới. đây là ý kiến riêng của tôi. Nếu có gì sai xin mọi người góp ý...
Lee Woo
Thiếu tài liệu báo chí chuyên ngành + sách vở . Những điều này rất cần cho sự nghiên cứu, nâng cấp trình độ sinh viên và quốc gia. Chúng ta có thể xem xét và nâng cấp thư viện VN. Tài liệu thì rất cũ và ít ỏi. Phòng thư viện của cả 1 trường đại học thì nhỏ hơn 1 phòng học. Trong khi các trường đại học trong khu vực thì rất rộng lớn với nhiều sách chất lượng cao từ các nhà xuất bản uy tín. Đó là những điều cần cải tiến, ít nhất là ngang tầm khu vực. Và đó là lý do tại sao SV Việt Nam thông minh nhưng khó phát triển đúng tầm nếu chỉ học trong nước. Vô hình chung ta đã "đẩy" SV du học nước ngoài cùng với một khoản tiền lớn chi tiêu tại nước khác. Sau khi học thành tài thì ở lại đóng góp cho "nhà người ta".
Nguyễn Hải
Bài viết phản ánh rất chân thực về bức tranh nghiên cứu khoa học ở Việt Nam ta hiện nay. Thiết nghĩ Nhà nước cần phải sửa đổi cơ chế đối với việc nghiên cứu khoa học, cần tạo mọi điều kiện để các nhà nghiên cứu tận tam với công trình của mình, bên cạnh đó, người nghiên cứu cần nhận thức rõ vai trò của mình đối với xã hội, đất nước.
Đỗ Lê Sơn
Tôi cho rằng việc công bố và được đăng các nghiên cứu này trên các tạp chí quốc tế còn ít vì : 1/ Hơi tốn tiền; 2/ Việt Nam tuy khuyến khích nhưng chưa thực sự có đánh giá cao về việc này; 3/ Hội nhập với quốc tế chưa cao vì nhiều lý do trong đó có điều kiện quá khó khăn của nhà khoa học (VD: đi dự hội thảo phải làm thủ tục xin phép phức tạp, nếu tự túc thì không có khả năng tài chính); 4/ Bản thân các nhà khoa học cũng không thấy cần thiết (trừ các nhà khoa học "thật sự" hoặc các nhà khoa học muốn đạt điểm để phong hàm).
K Toàn
Bài viết nói quá chuẩn, phản ánh chính xác thực trạng của nền khoa học Việt Nam. Tôi xin bổ sung thêm một ý. Phần lớn các thạc sỹ, tiến sỹ ở VN không có đóng góp gì nhiều trong xây dựng các ứng dụng thực tế để nâng cao cao nền khoa học công nghệ Việt Nam như định hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa mà chúng ta vẫn đang hô hào (nên mọi người vẫn hay nói "tiến sỹ giấy", "thạc sỹ giấy"...)...
Trần Quang Vinh
Tôi đồng tình với những điều làm hạn chế việc "thăng hoa" cho các nhà khoa học bởi các "công trình" khoa học "chưa thấy" của họ mà bài viết đã phân tích. Bên cạnh đó theo tôi thì còn có một nguyên nhân quan trọng làm hạn chế hay lãng phí chất xám ở đây chính là "niềm tin" của những người, cơ quan tổ chức "sở hữu" người nghiên cứu khoa học. Chính họ chưa thực sự tin tưởng và giao "nhiệm vụ" thực sự đúng với chuyên môn về lĩnh vực nhà khoa học nghiên cứu. Nguyên nhân này làm cho rất nhiều người có học hàm, học vị bị lãng quên. Mặt trái của việc bị lãng quyên này là nhà khoa học, những người từng đã được cấp học hàm học vị không thể có cơ hội thể hiện bởi điều kiện và hoàn cảnh của họ chưa cho phép. Một người nghiên cứu khoa học có học hàm, học vị một khi không phát huy được trí tuệ của họ đúng tầm thì người xung quanh, cộng đồng xã hội sẽ suy nghĩ thế nào về họ. Chắc chắn sẽ có 3 luồng suy nghĩ chính: 1. Nhóm những người cùng "giới" , "cùng cảnh ngộ" chia sẻ nỗi buồn theo 2. Nhóm những người không quan tâm tới lĩnh vực này thì thờ ơ vô cảm (thuộc nhóm thiểu số). 3. Nhóm những người quan tâm nhưng sự hiểu biết lại khá hạn chế hạn chế đến mức "không nhận thức nổi nguyên nhân làm kìm hãm sự phát triển của các nhà khoa học" thì xem thường (nhóm đa số). Củng từ nhóm này cộng với sự "lãnh đạm" của những người, cơ quan tổ chức "sở hữu" nhà khoa học hiện nay đã tạo ra một suy nghĩ tiêu cực và lệch lạc khá thịnh hành trong xã hội hiện nay là "học để thăng chức", "học vị, học hàm chỉ là bằng giấy", "học thạc sĩ, tiến sĩ... là trào lưu". Nếu đa số những công dân có trách nhiệm đối với đất nước hiện nay có sự "đồng cảm" với một trong những phát ngôn trên thì các bạn đã bao giờ nghĩ người, cơ quan, tổ chức đào tạo ra những người nghiên cứu khoa học là ai chưa?. Thiết nghĩ đây không phải là những phát ngôn được xem là khoa học và đã được một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nào thừa nhận nhưng lại là những phát ngôn có tính lan tỏa rất lớn và thịnh hành trong một bộ phận không nhỏ xã hội hiện nay. Cùng với những bài viết phân tích tích có chiều sâu mà nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã đăng, tôi mong rằng bằng sự sáng suốt của "người đứng đầu" các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong thời gian tới sẽ có những chính sách cải cách rõ nét hơn nữa, cụ thể hơn nữa, có giới hạn không gian và thời gian rộng hơn nữa để sử dụng nguồn chất xám "vô tận" đang bị lãng quyên như hiện nay.
Hữu Nghĩa
Thực trạng này rất khó để sửa chữa vì điều kiện VN còn rất khó khăn. Bản thân tôi cũng rất muốn tham gia nghiên cứu khoa học nhưng không có điều kiện (là ThS làm việc ở cơ quan nhà nước), thời gian họp hành choáng hết giờ làm việc thì lấy đâu thời gian làm nghiên cứu khoa học?
Võ Thị Bích Ngọc
Cần phải khách quan hơn nữa khi nhìn nhận vấn đề này. Bỡi lẽ, "Tạp chí quốc tế" là một khái niệm chưa rõ ràng đối với người đọc. Phải chăng, đây là các tạp chí do các nước không viết bằng tiếng Việt xuất bản? Oan cho các nhà nghiên cứu ở Việt Nam... Còn cách thức "làm" tạp chí thì các nước và các tổ chức quốc tế về cơ bản là khác nhau. Việt Nam nhiều tiến sĩ, ít công trình nghiên cứu. Mỗi năm biết bao thạc sĩ, tiến sĩ tốt nghiệp nhưng có bao nhiêu công trình khoa học được họ công bố, khi mà yêu cầu tốt nghiệp vốn rất chung chung và đánh đồng giữa tạp chí trong nước và quốc tế. Trước khi trả lời câu hỏi: "Tại sao nhà khoa học làm việc trong nước lại ít có công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí nước ngoài?", chúng ta có thể tự hỏi: Nhà khoa học là ai? và tại sao họ lại phải đăng các công trình nghiên cứu trên các tạp chí nước ngoài? Theo định nghĩa Wikipedia, nhà khoa học (scientist) hiểu theo nghĩa rộng là một trong những người tham gia vào một hoạt động có tính chất tiếp thu và chia sẻ kiến thức; nghĩa hẹp hơn là những người sử dụng các phương pháp có tính chất "khoa học" để tiếp thu, tìm hiểu về các kiến thức của tự nhiên và xã hội. Các nhà khoa học bao gồm các các chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như toán, kinh tế, vật lý, thiên văn đến các nhà lịch sử, địa lý, triết học. Vậy tại sao nhà khoa học (người Việt Nam, sống tại Việt Nam) lại phải đăng các công trình nghiên cứu trên các tạp chí nước ngoài? Đã là nhà khoa học thì ngoài tìm hiểu tự nhiên xã hội, việc quan trọng thứ hai chính là chia sẻ các tìm hiểu của mình. Vì vậy, đăng các công trình nghiên cứu không chỉ cần thiết mà còn bắt buộc để khẳng định, xác nhận người đó là nhà khoa học.
Nguyễn Thị Mai Trâm
Tôi đồng ý là chất lượng các tạp chí khoa học trong nước còn quá thấp, nhưng thực ra không phải tạp chí nào cũng không có quá trình peer review. Có một số tạp chí thuộc các ngành khoa học kỹ thuật vẫn có review khá nghiêm túc. Tuy nhiên có lẽ vấn đề nằm ở lĩnh vực chuyên môn cũng như thái độ của reviewer. Đôi khi reviewer phải đọc nhận xét 1 bài báo khoa học không thuộc về chuyên môn sâu của mình, mà họ lại quá bận rộn không thể đầu tư đủ thời gian để đọc kỹ, tìm hiểu thêm các tài liệu trích dẫn để đánh giá đúng chất lượng của bài báo. Theo tôi, ban biên tập các tạp chí khoa học nên cân nhắc kỹ khi gửi 1 bài báo đến các reviewer, còn người được gửi nếu không có thời gian đọc thì nên từ chối ngay từ đầu. Ngoài ra ban biên tập có thể gửi các bài báo đến các chuyên gia nước ngoài nhờ review để có ý kiến nhận xét khách quan hơn. Nếu bài báo có chất lượng, đề cập đến vấn đề mà họ quan tâm thì họ sẽ không từ chối review đâu. Còn chuyện làm sao để có 1 bài báo chất lượng thì còn liên quan đến nhiều nhiều vấn đề khác ...
Châu Anh
Tạp chí quốc tế cũng có nhiều loại lắm chứ không phải cứ dính đến "quốc tế" là tốt đâu. Đa số tạp chí các nước Đông Âu không được công nhận ở các nước Tây Âu và Mỹ. Còn ngay tạp chí các nước Tây Âu hay Mỹ cũng nhiều chỗ chỉ cần đóng tiền là đăng bài. Nhiều bài đăng lên một số tạp chí có tiếng (thuộc hệ thông sciendirect) cũng lỗi sai tùm lum. Tôi chỉ muốn nói rằng đừng có quá đề cao hai chữ "quốc tế", vì nó cũng đủ loại thượng vàng hạ cám. Giống như báo mình hay có bài "người nước ngoài lừa đảo", có khi là một anh Trung Quốc hay anh Phi nào đó cũng là nước ngoài.
Hà Mạnh Tường
Tác giả bài viết đã nói đúng thực trạng của tạp chí khoa học nước nhà. Chúng ta có quá nhiều tạp chí tầm "quốc gia" nhưng chất lượng khoa học thấp. Chủ yếu do trình độ chung của các nhà khoa học nước ta, tác giả, ban biên tập, đội ngủ cán bộ điều hành tạp chí, chưa đáp ứng yêu cầu của một tạp chí khoa học. Chúng ta chưa có "văn hóa" khoa học xem số lượng bài báo là thước đo trình độ và kiến thức. Các bài báo hiện nay chủ yếu là để đáp ứng việc lấy bằng cấp, học vị hơn là nhu cầu trao đổi tri thức. Để cai thiện tình hình này, có thể có các biện pháp sau: 1. Nên giảm số lượng số tạp chí khoa học, chỉ nên duy trì các tạp chí đủ mạnh. Nhà nước nên có ngân sách để hỗ trợ cho các tạp chí đủ điều kiện, xây dựng qui chế làm việc và xây dựng Ban biên tập mạnh. 2. Các đơn vị làm khoa học, cơ quan có các nhà khoa học làm việc nên đưa chỉ tiêu bài báo vào nhiệm vụ hàng năm. Như vậy mới có đủ bài báo chất lượng cho các tạp chí và các tác giả sẽ nghiêm túc hơn. 3. Các PGS, GS phải có chỉ tiêu bài đăng tạp chí uy tín trong và ngoài nước hàng năm. Hiện nay, PGS, GS đang trở thành một thứ "trang sức" cho các "nhà khoa học" hơn là ý nghĩa khoa học. Ngoài việc chất lượng tạp chí trong nước chưa cao, khó tạo điều kiện xây dựng và phát triển đội ngũ các nhà khoa học mạnh, Chúng ta cần đầu tư "cơ sở hạ tầng" cho nghiên cứu tại các trường đại học như: thư viện trực tuyến có thể truy cập bài toàn văn của các tạo chí uy tín trên thế giới; các qui trình triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học tại cơ sở cần được đầu tư tốt hơn, cán bộ khoa học cho các tạp chí... Việc hình thành được các tạp chí khoa học uy tín trong nước và tăng số bài đang tạp chí quốc tề là một công việc lâu dài (có thể tính bằng chu kỳ 10 năm) và cần đầu tư rất nhiều về nguồn lực và các chính sách phù hợp.
David Tran
Theo tôi cách thức và quy trình làm việc ở các tạp chí lâu nay của Việt Nam là một trong những nguyên nhân hạn chế việc xuất hiện các nghiên cứu trong nước trên các tạp chí học thuật quốc tế. Thêm vào đó môi trường làm việc chưa phù hợp, kinh phí cho nghiên cứu hạn hẹp và ít khả năng tiếp cận các nghiên cứu ngoài nước, khiến các nhà nghiên cứu trong nước có ít bài đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế. Một nguyên nhân đáng chú ý nữa hạn chế việc xuất hiện của các nhà nghiên cứu trong nước trên các tạp chí khoa học thế giới là do cách thức và quy trình làm việc tại các tạp chí phổ biến lâu nay trong nước.
Dương Anh Tuấn

Tôi có cảm giác hình như khi đề cập đến khoa học Việt Nam, ai cũng nghĩ rằng nó tệ lậu và chẳng có tinh thần khoa học gì cả. Do đó việc có các bài báo công bố trên các tạp chí quốc tế là điều rất xa xỉ. Tôi không đồng tình hoàn toàn với nhận xét kiểu như vậy. Tôi xin chỉ ra một số điểm để mọi người có cách nhìn đúng hơn về giới khoa học trong nước.

Thứ nhất là thông tin. Tôi xin lấy kinh nghiệm bản thân đưa ra một so sánh đơn giản. Khi tôi là nghiên cứu viên tại Viện Khoa học công nghệ Việt Nam, một trong cơ quan đầu ngành về nghiên cứu ở Việt Nam, tôi không có điều kiện truy cập và đọc các tạp chí uy tín. Còn bây giờ, tôi đang là sinh viên bình thường của một trường xếp hạng gần 100 ở Hàn Quốc. Hàng ngày tôi tìm và đọc các bài báo liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của mình một cách dễ dàng. Nếu ai đó từng học ở nước ngoài, hẳn các bạn ý thức rõ tầm quan trọng của việc đọc báo. Đơn cử, chỉ một môn học ở trường, các sinh viên phải tìm đọc ít nhất từ 5 đến 6 bài báo liên quan, chưa kể đến các tài liệu tham khảo khác. Tôi nói điều này để mọi người hình dung rõ số lượng bài báo mà một nhà khoa học cần và nên đọc khi muốn có nghiên cứu tốt, xứng tầm đăng trên các tạp chí uy tín. Với so sánh trên có thể nhận ra, giới khoa học Việt Nam thiếu thông tin - yếu tố không thể thiếu đối với nghiên cứu. Xin nói thêm là việc dùng tiền đề tài, tiền dự án mua các bài báo hay đăng tải, tôi thấy không mấy khả thi bởi từ việc đề xuất đến việc ký duyệt mua các bài báo tốn khá nhiều thời gian. Hơn nữa, ai có thể nắm chắc một bài báo đúng là bài báo mình cần khi mới chỉ đọc được phần tóm tắt? Tôi không làm được việc đó. Nói một cách đơn giản, việc đăng bài báo về nghiên cứu của bản thân trên tạp chí uy tín của thế giới về bản chất tương tự như việc bạn muốn tham gia một câu chuyện mà nhóm người đang thảo luận. Vậy, điểm đầu tiên bạn cần làm là lắng nghe xem nhóm người đó đang nói gì, đưa ra luận điểm gì. Nếu không làm được việc này bạn sẽ nói điều gì đó hoàn toàn không liên quan hoặc nói lại cái người ta từng nói. Tương tự, nếu giới khoa học trong nước không đọc được các bài báo trên các tạp chí uy tín, bạn nghĩ nhà khoa học có thể làm được gì? Điểm thứ hai là cơ sở hạ tầng. Giả sử khoa học Việt Nam có thể xem nhiều bài báo từ các tạp chí uy tín thế giới, mọi người có nghĩ là sau đó nhà khoa học phải làm gì không? Họ phải làm thí nghiệm, mày mò nghiên cứu trên các thiết bị, từ đó mới có thể đề xuất và đưa ra nghiên cứu mới, rồi đăng bài báo chất lượng. Tôi nói trên kinh nghiệm của chính bản thân tôi vì tôi cũng gửi và đăng bài báo trên IEEE, (Institute of Electrical and Electronics Engineers, tạm dịch là "Hiệp hội các chuyên gia Điện – Điện tử", một hội nghề nghiệp tại Mỹ nhưng có hội viên trên toàn cầu). Các bài báo nếu chỉ dựa vào nghiên cứu lý thuyết hay mô phỏng thì khả năng đăng thấp hơn nhiều với các bài báo có thí nghiệm thực tế. Với giới khoa học Việt Nam. Họ có gì? Một cái máy tính, thậm chí còn cũ mèm, vài quyển sách với những kiến thức cơ bản và chưa được cập nhật. Vậy mọi người mong chờ gì ở họ? Họ có đáng phải chịu sự chỉ trích của cả xã hội không?. Trên đây chỉ là hai điểm rất dễ nhận thấy mà tôi muốn mọi người biết. Nghiên cứu khoa học không phải chỉ có tờ giấy, cái bút với cái đầu thông minh là có thể làm ra những nghiên cứu đáng giá được các bạn ạ. Tôi thừa nhận nhiều nhà khoa học Việt Nam hiện giờ bị bài toán "cơm, áo, gạo, tiền" át đi mong muốn và nhiệt tâm nghiên cứu. Mỗi người đều ở vị trí là người con, người cha, người mẹ. Họ không đáng trách khi họ phải từ bỏ ước mơ khoa học để kiếm tiền báo hiếu cha mẹ, nuôi dạy con cái. Chính vì thế, những nhà khoa học dù trong môi trường khó khăn mà vẫn đứng vững và có những đóng góp lớn. Mong mọi người hãy có cái nhìn đúng đắn hơn, đa chiều hơn trước khi trách cứ nhà khoa học Việt Nam. Tôi cũng mong nhà nước có chính sách đúng đắn hơn để giải phóng tiềm lực của nhà khoa học.

Trần Vinh Thoại
Cám ơn tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã có một cách đặt vấn đề rất chính xác. Tôi cũng từng rất tâm tư với vấn đề này nhưng chưa có dịp chia sẻ với ai. Bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học cũng có ít nhất một lần ngậm ngùi thấy bài báo hay công trình nghiên cứu của mình bị tập san khoa học từ chối không công bố. Đứng trước một quyết định như thế của tập san, phản ứng đầu tiên mà nhà khoa học có là câu hỏi “tại sao”: Tại sao họ từ chối công trình tuyệt vời này của tôi? Ngạc nhiên thay, rất ít nghiên cứu về lí do từ chối bài báo khoa học! Ở các nước tiên tiến và phần lớn các đang phát triển (có lẽ ngoại trừ Việt Nam), bài báo khoa học là một viên gạch lót đường cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp của một nhà khoa học, là một đơn vị tiền tệ cực kì quan trọng cho việc xin được tài trợ cho nghiên cứu, và là một chỉ tiêu quan trọng để đo lường năng suất khoa học của một quốc gia. Do đó, có những nước, chẳng hạn như Hàn Quốc và Trung Quốc, chi ra hàng tỉ đôla để nâng cao sự có mặt của họ trên trường quốc tế qua hoạt động công bố ấn phẩm khoa học. Bài báo khoa học là “sản phẩm” của một công trình nghiên cứu khoa học. Để đánh giá sự thành bại của một công trình, người ta thường xem xét đến bài báo khoa học đã được công bố ở đâu, và trong vài trường hợp cần thiết, bằng sáng chế được đăng kí ở đâu. Viết một bài báo tốt là một việc làm không đơn giản chút nào, nếu không muốn nói là phức tạp. Nó đòi hỏi người viết phải sáng tạo và suy tưởng… trong lặng lẽ. Con đường dẫn đến một sản phẩm hoàn hảo không bao giờ là một con đường thẳng, mà là một con đường với nhiều ngõ ngách, nhiều đường cùng và nhiều chông gai. Nói một cách ngắn gọn, viết cần phải có thời gian. Thành ra, cách tốt nhất là phải khởi công viết càng sớm càng tốt, đừng bao giờ để cho đến giai đoạn cuối của nghiên cứu mới viết.
Hữu Kiên
Tại sao năng suất khoa học của Việt Nam quá tồi trong khi có nhiều “sĩ sư” như thế? Hiện nay, trong số GS,PGS ở các đại học chỉ có khoảng 1/3 (chính xác là 35%) tham gia giảng dạy đại học. Phần 65% còn lại là các quan chức trong các bộ và sở. Có lẽ con số tiến sĩ không làm nghiên cứu khoa học cũng khoảng 60-65%. Như vậy, có thể nói rằng Việt Nam đã và đang lãng phí nhân lực khoa học ở qui mô rất lớn. Đó cũng chính là lời giải thích tại sao các quan chức trong các bộ ở Việt Nam, nhất là Hà Nội, thường có danh thiếp chi chít với những học vị tiến sĩ. Thoạt đầu tôi ngạc nhiên và thấy khó hiểu là tại sao các bộ, thậm chí sở, có quá nhiều quan chức với văn bằng tiến sĩ như thế, vì ở nước ngoài, hiếm thấy tiến sĩ làm việc trong các cơ quan hành chính. Nhưng nay thì tôi đã hiểu tại sao: vì Nhà nước muốn có những con số ấn tượng về phần trăm tiến sĩ trong đội ngũ cán bộ. Một cách làm đẹp con số thống kê. Chủ trương tiến sĩ hóa cán bộ hành chính là một cách biến học vị tiến sĩ thành một loại giấy thông hành, một chứng từ, một tiêu chuẩn để tiến thân trong sự nghiệp quản trị hành chính. Chẳng hiểu từ đâu mà có qui định lạ lùng như phải là tiến sĩ mới được làm trưởng khoa trong một đại học, hay được đề bạt lên một chức vụ nào đó trong hệ thống quản trị hành chính. Chính vì qui định này mà không ít trường hợp, người ta đề bạt (hay nói thẳng ra là xếp đặt) người vào vị trí nào đó, rồi tìm cách hợp thức hóa cho người đó bằng cách cấp bằng tiến sĩ! Việc hợp thức hóa đó bất chấp tiêu chuẩn khoa bảng và ý nghĩa của học vị tiến sĩ thể hiện một sự phá hoại các chuẩn mực giáo dục đại học và kéo lùi thứ bậc nghiên cứu khoa học của Việt Nam.
Tiến Đạt
Việt Nam có ai nghiên cứu đúng đắn đâu mà đòi có bài báo khoa học cho ra hồn. Chính sách phát triển khoa học nói nghe hay ho vậy chứ cái "đầu" của nhà khoa học không "động" thì cũng như không.
Phan Thị Ái Hương
Xin được góp thêm một ý kiến với bài viết này. Việc công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học của quốc gia đó. Ở nước ngoài, người ta thường đếm số lượng và số lần trích dẫn bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên tạp chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa học của nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án. Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án, nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn.
Nguyễn Văn Trọng
Bài viết của ông Nguyễn Văn Tuấn rất đúng. Đối với cá nhân nhà khoa học, bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế là một “currency”. Đó là những viên gạch xây dựng sự nghiệp của giới “khoa bảng”. Tại các đại học ở phương Tây, số lượng và chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số một trong việc xét đề bạt, lên chức. Vì thế, việc công bố báo cáo khoa học đối với giới “khoa bảng” Tây phương là một ưu tiên hàng đầu của họ. Chính vì thế mà ở đó có văn hóa “publish or perish” (xuất bản hay là tiêu tan). Nếu trong vòng 1 hay 2 năm mà nhà khoa học không có một bài báo nào đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế, ban giám hiệu sẽ mời vị đó trả lời câu hỏi “tại sao”. Nếu không có lý do chính đáng thì người đó có thể bị mất chức. Như vậy, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một việc làm chính yếu, một nghĩa vụ và một điều kiện để tồn tại của một nhà khoa học. Nhưng từ lúc tiến hành nghiên cứu, thu thập dữ kiện đến lúc có báo cáo là một quá trình gian nan. Một công việc còn gian nan hơn nữa là làm sao đảm bảo báo cáo được đăng trên một tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới. Vì thế, các nhà khoa học cần phải đặc biệt chú ý đến việc soạn thảo một bài báo khoa học sao cho đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tôi xin mượn một câu nói của Khổng Tử: “Nếu dùng ngôn ngữ không đúng, thì những gì được phát biểu sẽ bị hiểu sai; nếu những gì phát biểu bị hiểu sai, thì những gì cần phải làm sẽ không thực hiện được; và những gì không thực hiện được, đạo đức và nghệ thuật sẽ trở nên tồi tệ hơn”. Và tôi cũng có thể thêm rằng, nước nhà sẽ thiệt thòi hơn.
Lê Trọng Thịnh
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, các bài báo khoa học đóng một vai trò rất quan trọng. Nó không chỉ là bản báo cáo về một công trình nghiên cứu mà còn là một đóng góp cho kho tàng tri thức của thế giới. Khoa học tiến bộ cũng nhờ một phần lớn vào thông tin từ những bài báo khoa học, bởi vì qua chúng mà các nhà khoa học có dịp trao đổi, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Một công trình nghiên cứu thường được tài trợ từ các cơ quan nhà nước, và số tiền này là do dân chúng đóng góp. Khi tiến hành nghiên cứu, nhà nghiên cứu có khi phải nhờ đến sự tham gia của tình nguyện viên hay của bệnh nhân. Trong trường hợp đó, tình nguyện viên và bệnh nhân phải dành thời gian để tự nguyện cung cấp thông tin và có khi hy sinh một phần xương máu cho nhà nghiên cứu. Nếu một công trình nghiên cứu đã hoàn tất mà kết quả không được công bố, thì công trình nghiên cứu đó có thể xem là có vấn đề về y đức và đạo đức khoa học, và nhà nghiên cứu có thể xem như chưa hoàn thành nghĩa vụ của mình với sự đóng góp của quần chúng. Do đó, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một nghĩa vụ của nhà nghiên cứu, là một cách gián tiếp cảm ơn sự đóng góp của bệnh nhân và giúp đỡ của dân chúng qua sự quản lý của nhà nước.
ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ hoặc email
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
SGTT.VN - PGS.TS Dương Nhựt Long và các cộng sự khoa thuỷ sản đại học Cần Thơ vừa hoàn thành đề tài nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thuần hoá, sản xuất giống và ứng dụng nuôi cá chép (Cyprinus carpio Linaeus, 1758) dòng Hungary (ảnh) trong mô hình lúa – cá tại tỉnh Hậu Giang.

Xem thêm »

08:53 ngày 18.05.2013
SGTT.VN - Trường cao đẳng ASEAN phải chấm dứt mọi hoạt động tuyển sinh, đào tạo ngành Dược tại TP.HCM, Nghệ An và các địa điểm khác ngoài trường (nếu có). Thanh tra bộ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm mới được phát hiện của Trường Cao đẳng ASEAN. Ngày 17.5, bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông báo kết luận về buổi làm việc liên quan đến các sai phạm của trường Cao đẳng ASEAN trong hoạt động liên kết đào tạo liên thông.