Hành trình buồn qua “thủ phủ voi”
KỲ 2: Tìm đường đến với voi
SGTT.VN - Chuyến đi đầu tiên mất một tháng, nhưng anh Lê Văn Thao cứ chạy lòng vòng từ cơ quan này sang cơ quan khác mà không làm sao “gặp” được voi. Nguyên nhân là bản thân các hạt kiểm lâm cũng không nắm được hết từng con voi đang do ai chăm sóc và làm sao tiếp xúc với từng người chủ, từng con voi. Thất vọng và… hết tiền, anh Thao đành trở về Hà Nội.
|
Khác với trước kia, ngày nay quản tượng phải đưa voi vào những khu rừng sâu cách buôn làng hàng chục cây số để thả. Ảnh:
|
“Chúng tôi hiểu là phải tìm một con đường khác để đến với voi. Và nếu như chuyến đi đầu tiên có thể coi là thất bại thì mình vẫn có được một thành công không nhỏ: chúng tôi đã làm quen được một người bạn, một người phiên dịch tiếng địa phương đáng tin cậy là anh Y Van sống ở buôn Đôn, em trai giọng ca Tây Nguyên nổi tiếng Y Zắc”.
Sau chuyến đi đầu tiên thất bại, anh Thao và người đồng sự, tay máy Nguyễn Bá Ngọc không nhớ nổi đã trở lại Dăk Lăk bao nhiêu lần trong suốt một năm trời. Có những chuyến đi chỉ một tuần, có chuyến một tháng. Cứ đi, tìm hiểu, ghi chép, chụp ảnh và khi nào cạn túi lại về chờ đến lúc “nạp” đủ tiền. “Thực hiện một công việc hoàn toàn cá nhân, nhưng chúng tôi thấy mình may mắn vì có sự giúp đỡ của những con người chia sẻ cùng chúng tôi tình cảm với loài voi”, anh Thao kể.
Trở lại Dăk Lăk lần thứ hai, nhóm của anh Thao quyết định vào thẳng các buôn làng tìm chủ voi. Với sự đồng hành của Y Van, họ đến gặp các gia đình đang có voi để khai thác du lịch và trình bày mong muốn được tìm hiểu về con voi của họ. “Đa số mọi người đều ngại. Họ không hiểu chúng tôi muốn gì, liệu chúng tôi có làm ảnh hưởng gì tới con voi, thứ mà với nhiều bà con ở buôn Đôn hay buôn Giá hiện nay là nguồn thu nhập quan trọng của cả gia đình. Vì thế ban đầu gần như chúng tôi không nhận được sự hợp tác”.
Năm 1994 Việt Nam trở thành thành viên của công ước Cites – công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp. Không chỉ không được phép buôn bán, trong khoảng một thập niên qua các cuộc săn voi truyền thống bị cấm hoàn toàn. Tóm lại, việc sở hữu voi nhà là vấn đề “nhạy cảm” đối với các chủ voi.
“Sử dụng voi để vận chuyển gỗ lậu cũng là nguyên nhân khiến việc tiếp xúc của chúng tôi với voi nhà không dễ dàng”, anh Thao giải thích thêm. Hiện nay trung bình một con voi khi sử dụng để khai thác phục vụ du lịch sẽ đem về cho chủ voi 10 triệu đồng/tháng. Nhưng chỉ cần cho con voi đi chở gỗ lậu, một chuyến đã được khoảng 5 triệu mà không mất nhiều công. “Tự nhiên lại có mấy ông đến đòi chụp ảnh rồi xin đi theo voi, bà con khó mà cảm thấy yên tâm được…”
Với tình trạng đó, mặc dù anh Y Van đã giúp đỡ rất nhiệt tình nhưng nhóm của anh Thao mới chỉ hỏi chuyện được một số già làng, và có những tiếp cận bề ngoài với voi. “Thật may, chúng tôi được giới thiệu với một người khác và đây chính là người đã giúp cho dự án của chúng tôi thông suốt”. Người mà anh Thao nói tới là anh Đàng Năng Long sống ở thị trấn Liên Sơn, huyện Lăk. Anh Long đang nuôi bảy con voi và cũng là người đấu tranh mạnh mẽ với bọn săn bắt voi trái phép. Khi biết ý định của hai gã Hà Nội có vẻ đang làm một việc rất khác thường, anh Long ngay lập tức nhận lời cộng tác và đặc biệt là dùng uy tín của mình để giới thiệu cả hai với các chủ voi khắp Dăk Lăk. “Anh Long vốn là con của một dòng họ buôn voi có truyền thống lâu đời. Mà đối với người dân Dăk Lăk, người buôn voi có một uy tín vô cùng cao. Chính vì thế, giới thiệu của anh ấy đảm bảo cho chúng tôi một chiếc vé thông hành vô cùng quan trọng để có thể gặp từng chú voi”, anh Thao giải thích.
Vậy là con đường đến với voi đã được phát lộ. Đó cũng là con đường được nối kết bằng câu chuyện về 52 chú voi nhà ở Tây Nguyên...
 |
 |
|
Đa số voi nhà ở Dăk Lăk hiện được sử dụng để khai thác du lịch như chú voi Na Túc ở huyện Lăk này.
|
Anh Lê Văn Thao bên một chú voi ở Dăk Lăk.
|
Dung P. – ảnh: Nguyễn Bá Ngọc
|
Đai biểu Quốc hội Dương Trung Quốc:
Bao giờ triển khai dự án bảo vệ voi?
“Trong kỳ họp trước của Quốc hội, tôi đã đưa vấn đề bảo tồn voi ra chất vấn ông bộ trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ông ấy hứa sẽ xem xét lại và thúc đẩy những nỗ lực cho vấn đề. Nhưng từ đó tới nay tôi chưa thấy có diễn biến gì mới nên chắc chắn trong kỳ họp tới của Quốc hội tôi phải hỏi lại chuyện này. Từ năm 2009 (trước khi nhóm của anh Lê Văn Thao thực hiện cuốn sách ảnh – PV) đã có cả một dự án bảo tồn voi được xây dựng ở Dăk Lăk với con số đầu tư tới 61 tỉ đồng, nhưng tới nay dự án này chưa hề triển khai được gì. Trong thời gian qua, tôi cũng được biết có thêm những vụ voi chết ở Đồng Nai, Lâm Đồng… Tất cả những điều đó tôi sẽ phải hỏi lại ông bộ trưởng trong kỳ họp tới.
Về giải pháp, trên diễn đàn Quốc hội tôi cũng đã đưa ra quan điểm cần phải có sự liên kết quốc tế cho vấn đề này. Chúng ta cần hợp tác với các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia... để làm hai việc. Thứ nhất là họ có chung trách nhiệm với chúng ta vì đàn voi rừng cũng hoạt động trong khu vực rừng nước họ trong những khoảng thời gian nhất định của năm, vì thế sự hợp tác sẽ giúp gia tăng hiệu quả bảo tồn đàn voi rừng. Thứ hai là với riêng Việt Nam sẽ học tập được cách bảo tồn của các nước bạn. Đơn cử như Thái Lan: theo tôi biết họ đang có 4.000 con voi nhà và 3.000 voi rừng. Vấn đề tóm lại là chúng ta phải hành động chứ với tình trạng này thì tôi thấy chưa có chuyển biến gì. Cá nhân tôi, với tư cách một nhà khoa học và một đại biểu Quốc hội, tôi chỉ có thể lên tiếng và kêu gọi sự quan tâm của những người có trách nhiệm cũng như dư luận xã hội”.
|
Kỳ 3: Chuyện về những người bạn lớn