Rắc rối chuyện nhà
Dạy con tiêu tiền
SGTT.VN - Không ai có thể phủ nhận quyền năng cũng như những mặt trái mà tiền bạc đem đến. Cũng chính từ việc nhận thức được tính hai mặt của đồng tiền, nhiều bậc cha mẹ băn khoăn không biết nên dạy con thế nào trong việc dùng tiền.
Dạy con hiểu giá trị tiền bạc
|
Cần giáo dục trẻ cách sử dụng tiền bạc ngay từ nhỏ, để trẻ hiểu được giá trị của đồng tiền mà không hoang phí. Ảnh: Lê Quang Nhật
|
Đang diễn ra hai khuynh hướng giáo dục con về tiền bạc trái ngược nhau. Nhiều người quan niệm “phú quý sinh lễ nghĩa” nên đáp ứng mọi nhu cầu để con không vì thiếu thốn mà nảy sinh tật xấu. Không ít bậc cha mẹ khác lại quyết bảo vệ sự trong sáng của con khi cách ly con hoàn toàn với tiền bạc. Các nhu cầu ăn uống, đồ dùng học tập, sinh hoạt cá nhân… của con cái đều được cha mẹ chu cấp với suy nghĩ chừng nào con chưa biết dùng tiền thì còn miễn nhiễm với thói hư tật xấu. Suy nghĩ này hoàn toàn chủ quan, vô căn cứ. Vì dù muốn hay không, đến một giai đoạn nhất định của sự phát triển, trẻ cũng bắt đầu nhận thức về tiền bạc. Và việc có để con tiếp cận chuyện tiền nong hay không không phải là yếu tố quyết định con ngoan hay hư, mà giáo dục con hiểu giá trị đồng tiền và dùng hợp lý mới là điều quan trọng.
Một số lời khuyên
Xài tiền thông minh là một bài toán khó đối với người lớn. Do đó, dạy con làm chủ đồng tiền là một nghệ thuật. Mỗi người sẽ có những phương pháp khác nhau, nhưng cần đảm bảo:
Tạo nguồn thu nhập cho con: nên cho con một khoản tiền nhất định mỗi ngày hoặc mỗi tuần để dành vào việc ăn sáng, mua sách báo… Cha mẹ ước lượng giá trị để đưa ra mức phù hợp nhưng không nên quá nhiều, quá dư thừa sẽ khó kiểm soát, hoặc quá dễ dãi đáp ứng khi con xin thêm mà không có lý do chính đáng. Ngoài khoản tiền nhất định đó, cha mẹ cần tạo thêm nguồn thu cho con bằng cách giao cho con phụ trách việc thu gom bán sách báo, đồ ve chai, sắt vụn trong nhà. Tập cho con nuôi heo đất bằng khoản tiền kế hoạch nhỏ này cùng với tiền lì xì tết. Khi con cần mua những thứ chúng thích, khuyến khích con mua bằng tiền để dành, nếu chưa đủ thì nói con tiếp tục tiết kiệm. Có như thế trẻ mới kiên nhẫn và hiểu được giá trị mỗi món đồ mình muốn có đều phải qua sự chắt chiu, không tự dưng mà có.
Không dùng tiền để làm phần thưởng hay trả công cho con sau mỗi lần làm việc nhà hay sau mỗi điểm 10. Như vậy trẻ dễ có tư tưởng “vật chất hoá” mọi việc và nảy sinh tâm lý sòng phẳng thái quá khi đối nhân xử thế.
Giám sát theo định kỳ: cha mẹ nên kiểm tra cách sử dụng tiền của con, đưa ra nhận xét cách chi tiêu của con là đúng hay chưa đúng với thái độ tôn trọng, bình tĩnh để giúp con điều chỉnh. Chi tiêu hợp lý không phải là năng khiếu bẩm sinh mà phải qua một quá trình học hỏi nên cha mẹ cần kiên nhẫn định hướng cho con từng bước.
Cha mẹ là tấm gương. Không thể giáo dục con tiết kiệm trong khi cha mẹ hoang phí. Không thể dạy con làm chủ đồng tiền khi cha mẹ phụ thuộc, mù quáng vì tiền. Cha mẹ hãy là tấm gương để mỗi lời dạy con với việc mình làm không khập khiễng. Dù có dư dả, đừng tạo cho con cảm thấy đồng tiền dễ kiếm. Hãy nói cho con biết đồng tiền không tự dưng mà có mà do sự lao động vất vả. Trẻ có hiểu được giá trị đồng tiền thì mới biết trân trọng và chi tiêu đúng đắn.
Nguyễn Văn Công (giảng viên tâm lý học)
|
Chọn thời điểm thích hợp
Việc chọn thời điểm để bắt đầu dạy con về tiền bạc cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Cha mẹ thường đứng trước hai mốc lựa chọn: một là khi con bắt đầu bước vào lớp một, hai là những năm đầu cấp hai. Theo chuyên gia, đừng quá phiến diện cho rằng trẻ biết tiêu tiền đồng nghĩa với đua đòi và hư hỏng. Việc sử dụng đồng tiền có thể giúp bé phát triển trí thông minh, khả năng tính toán và quản lý cuộc sống. Chắc hẳn không ai đánh giá cao những đứa bé 13, 14 tuổi dù ngoan ngoãn nhưng lúng túng, bỡ ngỡ trong việc tự mua sắm vài món đồ dùng cho bản thân. Nó thể hiện sự thụ động, thiếu tự tin và yếu về kỹ năng sống. Do đó không nên dạy con quá muộn về tiền bạc. Độ tuổi phù hợp là từ 5 – 7 tuổi, vì lúc này bé bắt đầu hình thành nhu cầu, những đòi hỏi, bắt đầu nhận thức rõ thế giới xung quanh cũng như hình thành tính độc lập.
|