Đôi du ca cuối cùng của người ÊĐê
“Hỡi anh đi lấy củi lên nương với em, nhà anh ở đâu, sao anh lại đi một mình…”, Aduôm y-yek, ở buôn Êa Khit, cất lên giọng hát vang xa trong ngôi nhà dài ở Buôn Đôn, tỉnh Daklak.
Aê y-yek, chồng của bà hát đáp lại rằng: “Con gái đẹp như con cá trong nước, như cái cà chua chín mọng trên cây, nhà em ở đâu vì sao em cũng đi một mình…?”
Hơn 50 năm trước, những lời hát tỏ tình như vậy theo chân Aduôm y-yek và Aê y-yek lội qua suối, băng qua rừng, men theo con đường mòn từ buôn làng đến nương rẫy. Nhiều mùa rẫy trôi qua, biết bao trai làng đã ngỏ lời, nhưng cái bụng của Aduôm y-yek vẫn không ưng, bởi trái tim của cô sơn nữ đã thổn thức vì giọng hát của chàng trai Aê y-yek. Rồi một mùa lúa mới nữa lại đến, trong một lễ hội mừng mùa ăn cơm mới, Aduôm và Aê đã đến với nhau cùng hát cho nhau nghe đã ngót 50 năm. Nơi nào có lễ hội ở Tây Nguyên là họ được mời đến, những bản tình ca, những bài hát mừng mùa lễ hội của dân tộc Êđê lại tuôn trào trong họ.
Đi và hát…
Những bước chân của đôi du ca này đã lang thang hết những vùng đất Tây Nguyên trong những mùa hội, mặc dù hai ông bà đã quá tuổi “thất thập cổ lai hy”. Sau một ngày lễ hội, Aduôm y-yek vẫn ngồi lặng yên bên khung dệt, qua những tia sáng, hắt vô từ tấm liếp cửa chống hờ trong ngôi nhà dài của người Êđê ở khu du lịch Buôn Đôn. Bà bảo, bao năm nay bà vẫn ngồi như vậy, nhìn nắng nhìn mưa. Bà lại nhớ những tháng ngày lên nương rẫy, nhớ những lời hát giao duyên tỏ tình sâu lắng và âu yếm của ông trong những ngày nắng dát vàng trên những trảng cỏ mùa xuân Tây Nguyên
Aê y-yek cũng nhớ những giọng hát vút cao của thanh niên nam nữ trong và mạnh mẽ như dòng Sêrêpôk, con sông chảy ngược sang Lào ở Buôn Đôn. Những ngày ấy, điệu khèn Đinh năm của ông lại cất lên, khi trầm khi bổng, lúc khoan thai, lúc gấp gáp, hoà quyện với giọng hát của bà. Sắc mặt của bà hồng lên, đôi môi của bà hoà nhịp theo điệu khèn. Khi ấy, tiếng khèn của ông lại mạnh hơn, trầm bổng hơn, khi nhìn bà cười hạnh phúc.
Ông và bà bắt đầu đi biểu diễn ở lễ hội từ năm 1999. Ông kể, ngày xưa, trai tráng trong buôn hay tụ tập lại để hát trong mùa hội của người Êđê. Hát trong không khí ngày hội buôn làng Tây Nguyên là một cảm giác khó quên thời trai trẻ. Những điệu nhạc mừng mùa lúa mới, cúng Giàng. Người Êđê mừng mùa lúa nương vào tháng 10 âm lịch hàng năm. Những đêm như vậy, mọi người sẽ cùng tụ tập lên nương rẫy đưa lúa về bản làng, lửa lại được đốt lên, những nhạc cụ lại bày ra để cùng nhau hát mừng mùa lúa mới. Giờ này hoạ hoằn lắm mới có hội. Nhưng ngày hội, lũ thanh niên lại không hát hò như xưa mà chỉ ôm lấy ché rượu cần và mở cát – xét. “Tôi và Aduôm nhớ tiếng hát, nhớ điệu khèn, nhớ tiếng chiêng ngày mùa nên phải đi hát ở những lễ hội khác. Không hát nó buồn cái bụng lắm… Đi miết, hát hoài rồi cũng thành thói quen, không hát không chịu được”, Aê y-yek vừa nói vừa chỉnh lại cây khèn Đinh năm.
Giữ gìn di sản
 |
|
Đôi du ca Aduôm y-yek và Aê y-yek sẽ mãi đi và hát để tiếng ÊĐê còn như con sông, con suối của người Êđê chảy mãi
|
Nguyên lý âm nhạc của người Êđê hay người Tây Nguyên là dựa vào sự lặp đi, lặp lại một câu nhạc tương ứng với một chuyển động. Nhịp chày của phụ nữ giã gạo, những bước chân đều lên nương xuống rẫy của người Êđê – nhịp điệu của cơ thể. Quan trọng hơn, trong mỗi bài hát câu nhạc của người Tây Nguyên đều lưu giữ một truyền thuyết về nguồn gốc văn hoá của họ. Aê y-yek nói rằng, những chuyến du ca của ông và bà đều muốn giữ lại những điều đó, bởi những người biết sử dụng những nhạc cụ này và hát ngày càng ít đi.
Khèn Đinh năm, theo tiếng Êđê, đinh có nghĩa là ống, năm có nghĩa là số 6 trong tiếng Việt. Khèn Đinh năm mỗi khi hát lên là để chào khách, khi biểu diễn, bà sẽ hát Airai và ông sẽ thổi chiếc khèn Đinh năm này. Airai là bài hát về nỗi nhớ quê hương, nhớ những đứa con đi lấy vợ xa. Người Ê đê theo chế độ mẫu hệ, con trai phải đi ở rể, khi mẹ với bố nhớ con, mang khèn này ra thổi. “Sao con làm gì ở nhà vợ mà lâu quá không về thăm bố mẹ, con có biết bố mẹ nhớ con nhiều lắm không? Bao nhiêu cái rẫy, bao nhiêu ngọn đồi vẫn không ngăn được tình cảm của bố mẹ dành cho con. Tiếng khèn này sẽ vượt qua những trái núi cao, những cánh rừng xa để nhắn nhủ con về với bố mẹ, con ơi!”. Aê y-yek lại cất lên điệu nhớ nhung, tiếng khèn vượt qua ngôi nhà dài, băng qua con suối, vượt qua những cánh rừng xa, khi trầm lúc bổng, lúc chậm, khi nhanh, mang âm hưởng nỗi nhớ xót xa những đứa con xa xứ.
Gia đình ông và bà đã lưu giữ những nhạc cụ này từ thế hệ trước. Hai ông bà lấy nhau để bảo tồn những nhạc cụ truyền thống này của người Ê đê. Aduôm y-yek kể, ngày xưa hai gia đình rất thân nhau, cả hai nhà đều lưu giữ những loại nhạc cụ này. Khèn Đinh năm, Đinh put, trống, cồng, chiêng, ché, ghế Kpan là cả gia tài đối với người Êđê. Hai gia đình đã se duyên cho ông và bà để gìn giữ đồ gia bảo của gia đình.
Ông mân mê chiếc khèn, giọng trầm buồn nói: “Chúng tôi cũng sợ thất truyền, nên cố gắng dạy cho con cháu, nhưng lũ thanh niên bây giờ không chịu học, bởi vì chúng không thích. Giọng hát của Aduôm ngày xưa đã làm tôi mê mẩn”. Khi hai gia đình tác hợp với nhau, tôi cũng đã phải lòng bà ấy lâu rồi. Dấu thời gian đã hằn lên khuôn mặt, lên giọng hát của bà, nhưng Aduôm vẫn hát, vẫn mê và say với điệu khèn của ông. Khuôn mặt bà đỏ hồng liếc nhìn ông tràn đầy hạnh phúc. Ông vẫn cười hiền lành nhưng chứa chất yêu thương với người bạn đời đã du ca cùng ông hơn nửa cuộc đời.
“Khi nào còn khoẻ mạnh, chúng tôi còn hát; không còn sức để đi, chúng tôi mới về với những đứa con của mình”, Aê y-yek nhìn bà Aduôm nói. Bà vẫn ngồi lặng yên bên bậu cửa, đan những tấm thổ cẩm; ông ngồi cạnh bà tiếp tục sửa sang nhạc cụ để chuẩn bị cho những chuyến du ca tiếp nối trong đời. Những ngày không có lễ hội, ông lại đánh đàn Gon cho bà nghe, bà ngẩng lên mỉm cười, đôi môi ấy lại cất lên những lời ca như tuổi đôi mươi thuở nào.
Sơn Nghĩa