sgtt.vn, 25.05.2013  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 12.07.2012, 09:22 (GMT+7)

Tìm vốn phi ngân hàng

SGTT.VN - Để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại, cần đẩy mạnh phát triển các kênh vốn phi ngân hàng cho hoạt động của nền kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc gần như toàn bộ của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng thương mại như hiện nay. Đó là một trong 12 kiến nghị của Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2012 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế”(*). Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu với bạn đọc kiến nghị này, với hy vọng góp một tiếng nói giải pháp trước tình hình khủng hoảng tài chính ngân hàng với những nút thắt về lãi suất (cao), tín dụng (tăng trưởng thấp) như hiện nay.

Vốn cho hoạt động sản xuất của nền kinh tế được huy động thông qua hai kênh chính là ngân hàng và phi ngân hàng. Tuy nhiên, ở nước ta, hiện nay cả hai kênh chính này đều đang bị ách tắc do các nhà đầu tư ngày càng ít quan tâm đến trái phiếu dài hạn (hơn năm năm) bởi lo lắng về sự bất ổn của các chính sách vĩ mô hoặc kỳ vọng lạm phát dài hạn quá cao ở Việt Nam, đầu tư vào cổ phiếu trở nên hết sức rủi ro, không hấp dẫn (trong mối tương quan với các lĩnh vực khác) cả trong ngắn hạn và dài hạn. Chính vì vậy, kênh huy động vốn cho sản xuất chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng thương mại.

Nhiều nước châu Á phát hành trái phiếu của ngân hàng trung ương. Đây là cách gia tăng lượng trái phiếu chính phủ trên thị trường mà không phụ thuộc và ảnh hưởng vào ngân sách. 

Hiện trạng quá lệ thuộc vào nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay không chỉ đem đến khó khăn và rủi ro cho doanh nghiệp bởi lãi suất cao vượt quá sức chịu đựng của doanh nghiệp, mà còn khiến hiệu lực chính sách tiền tệ suy giảm bởi không thể đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của nền kinh tế trong khi vẫn phải đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng thương mại lại đang đối mặt với nhiều rủi ro: (i) rủi ro tín dụng, trước hết có liên quan đến các khoản nợ xấu; (ii) rủi ro các khoản vay liên quan đến thế chấp có giá trị có thể sụt giảm mạnh khi “bong bóng tài sản xì hơi” và được định giá quá cao; (iii) rủi ro tín dụng liên quan tới tình trạng “sai lệch kép”; (iv) rủi ro hoạt động liên quan tới tình trạng sở hữu chéo cổ phần (giữa các ngân hàng thương mại, các tập đoàn, tổng công ty có các hoạt động liên quan tới hoạt động tài chính, bất động sản) tạo ra các nhóm lợi ích có thể chi phối thị trường, cản trở quá trình giám sát; (v) các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về quản lý, quản trị ngân hàng như quản lý rủi ro, quản trị tài sản có, tài sản nợ, khách hàng, sản phẩm, kiểm toán nội bộ v.v. chưa thật sự hiệu quả và chưa có hiệu lực cao.

Thị trường tín dụng phi chính thức có quy mô khá lớn, chủ yếu ở nông thôn. Do đó, các giải pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại cần hướng tới xử lý dứt điểm những bất cập trên, giúp lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng trong thời gian trung hạn. Bên cạnh đó, tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân đối hơn thị trường tín dụng và nâng cao vai trò thị trường chứng khoán trong huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp. Việc xây dựng thị trường vốn có cấu trúc cân đối hơn là rất quan trọng để có một thị trường hoạt động an toàn và hiệu quả, giảm thiểu rủi ro hệ thống. Chính vì vậy, bên cạnh cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, việc phát triển thị trường chứng khoán có ý nghĩa chiến lược trong dài hạn.

Hiện trạng quá lệ thuộc vào nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay không chỉ đem đến khó khăn và rủi ro cho doanh nghiệp bởi lãi suất cao vượt quá sức chịu đựng của doanh nghiệp, mà còn khiến hiệu lực chính sách tiền tệ suy giảm bởi không thể đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của nền kinh tế trong khi vẫn phải đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô.

Đối với thị trường chứng khoán, các kiến nghị cụ thể liên quan đến việc tái cấu trúc bao gồm:

Thứ nhất, quy định cụ thể và có những chế tài hữu hiệu trong việc yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp thông tin minh bạch, chính xác về hoạt động và kết quả tài chính doanh nghiệp.

Thứ hai, thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện, ở tất cả các mặt, bao gồm tái cấu trúc hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ, cấu trúc nhà đầu tư, cấu trúc hệ thống tổ chức kinh doanh chứng khoán và tổ chức quản lý, vận hành thị trường.

Thứ ba, có lộ trình cụ thể, bước đi thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn, hạn chế tác động tiêu cực đến hoạt động của thị trường chứng khoán cũng như các hoạt động kinh tế – xã hội khác.

Thứ tư, chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, từng bước tiếp cận với các chuẩn mực chung và thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năng chống đỡ rủi ro, thu hẹp về khoảng cách phát triển với các quốc gia trong khu vực.

Đối với thị trường trái phiếu, để đẩy nhanh nguồn cung trái phiếu chính phủ, có thể áp dụng hình thức phát hành bán phần, theo đó mỗi đợt đấu thầu chỉ bán ra 80% lượng trái phiếu trong kế hoạch phát hành, 20% còn lại được gửi vào một quỹ điều tiết để Chính phủ có thể chủ động can thiệp vào thị trường trái phiếu khi cần thiết. Như vậy, lượng trái phiếu phát hành sẽ luôn cao hơn thâm hụt ngân sách. Biện pháp thứ hai mà nhiều nước châu Á áp dụng là phát hành trái phiếu của ngân hàng trung ương. Đây là cách gia tăng lượng trái phiếu chính phủ trên thị trường mà không phụ thuộc và ảnh hưởng vào ngân sách. (Có thể có ảnh hưởng rất nhỏ vì chi phí trả lãi suất cho những loại trái phiếu này).

Với quy mô hiện tại của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, có thể khẳng định Việt Nam còn xa mới đạt đến quy mô 15 – 20% vốn doanh nghiệp huy động thông qua trái phiếu thay vì qua kênh phát hành cổ phiếu, và vay ngân hàng truyền thống. Để phát huy hơn nữa kênh trái phiếu cho việc huy động vốn, cần lưu ý một số giải pháp sau:

Thứ nhất, thủ tục pháp lý về cấp phép pháp hành trái phiếu doanh nghiệp cần đơn giản hoá và giảm bớt thời gian xét duyệt, thay đổi trần lãi suất. Việc tháo gỡ các biện pháp hành chính quản lý lãi suất sẽ giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn và giảm thiểu các bất an về chính sách cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp phát hành.

Thứ hai, cần có ít nhất ba công ty chuyên đánh giá rủi ro tín dụng hoạt động theo nguyên tắc nhà đầu tư trả phí để tránh xung đột lợi ích trong nội bộ (CRA). Bên cạnh đó, cần phát triển dịch vụ bảo lãnh/bảo hiểm tín dụng cho nhà phát hành.

Thứ ba, phát triển cơ sở hạ tầng cho cả thị trường sơ cấp và thứ cấp của trái phiếu doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là một hệ thống ngân hàng đầu tư có tiềm lực mạnh đóng vai trò các nhà tạo lập thị trường. Chính phủ cũng có thể tiên phong trong việc thiết lập một mô hình ngân hàng đầu tư thông qua các ngân hàng thương mại nhà nước. Mở cửa và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường trái phiếu.

Thứ tư, chủ động tham gia quỹ Đầu tư trái phiếu ABF (Asian Bond Fund) do hiệp hội Các ngân hàng trung ương châu Á (EMEAP) thành lập. Thị trường trái phiếu của Việt Nam với xuất phát điểm thấp và tốc độ tăng trưởng khá cao so với các nước khác trong khu vực, sẽ có nhiều lợi điểm khi tham gia những liên minh như vậy.

(*) Do uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, viện Khoa học xã hội Việt Nam, phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, UNDP tổ chức.

  
  
Đánh giá bài viết:  

Bài liên quan

ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ hoặc email
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
08:43 ngày 25.05.2013
SGTT.VN - Tính đến chiều ngày 24.5, tại Bến Tre đã có hơn 30 người nhập viện với các triệu chứng ngộ độc thực phẩm như ói mửa, tiêu chảy, sốt li bì.
SGTT.VN - Khoảng 30ha đất của nhà máy đóng tàu Ba Son hay còn gọi là xí nghiệp liên hiệp Ba Son sẽ ra sao, khi trong tương lai nhà máy đóng tàu này dời về khu cảng mới Cái Mép – Thị Vải (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), theo chỉ đạo của Chính phủ? Đó là câu hỏi được không ít người quan tâm, bởi khu đất này hiện toạ lạc tại vị trí được xem là đẹp nhất nhì thành phố.

Xem thêm »