Trung Quốc: thành viên lá mặt lá trái của UNCLOS
SGTT.VN - Khi đặt vấn đề cần thành lập một liên minh pháp lý với ASEAN làm nòng cốt dưới sự hậu thuẫn của Mỹ và các đồng minh, một câu hỏi được đặt ra là Trung Quốc sẽ đứng ở đâu khi nước này cũng là một thành viên phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về luật Biển (UNCLOS).
Tham gia nhưng không tuân theo
Tham gia UNCLOS nhưng không tuân theo nó, chiêu bài này của Trung Quốc đã phát huy tác động là tấm bình phong nâng cao tiếng nói cũng như tính “hợp pháp” của Bắc Kinh tại các khu vực tranh chấp. Mà về mặt chính trị, nó mang lại ba lợi ích quan trọng.
|
Trung Quốc đã vi phạm Công ước Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) khi đưa ra tấm bản đồ đường lưỡi bò tự phát thâu tóm hết biển Đông.
|
Thứ nhất, tham gia vào UNCLOS là một phần để thể hiện chính sách “trỗi dậy hoà bình” nhằm đạt được các lợi thế về ngoại giao và nâng cao uy tín của Trung Quốc trên trường quốc tế. So với các nước ASEAN, Trung Quốc quá lớn và luôn là nguy cơ đe doạ chực chờ. Để làm yên lòng những người láng giềng nhỏ bé, Trung Quốc đã từ chối sử dụng sức mạnh, tự trói buộc vào luật pháp để các nước láng giềng tin tưởng và cảm thấy yên tâm hơn. Từ sau khi gia nhập UNCLOS, Trung Quốc và ASEAN cũng bắt đầu xúc tiến xây dựng để cho ra đời DOC. Trong quá trình xây dựng DOC và từ khi DOC ra đời năm 2002 cho đến trước 2009 – thời điểm Trung Quốc chính thức tuyên bố yêu sách “đường lưỡi bò”, Biển Đông đã có một thời kỳ tương đối hoà bình và ổn định. Còn khi so với các nước lớn khác, đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc cần thể hiện rằng mình không phải là mối lo ngại, cũng không đe doạ thay đổi trật tự do Mỹ tạo ra. Điều này không chỉ giúp Trung Quốc tránh được “chiến lược ngăn chặn” như Mỹ đã làm với Liên Xô thời chiến tranh lạnh.
Thứ hai, việc tham gia UNCLOS không có nghĩa là Trung Quốc hoàn toàn tuân thủ theo UNCLOS. Chẳng hạn như một trong những cơ sở chính để Trung Quốc đưa ra để xác định chủ quyền của mình tại các vùng tranh chấp là khái niệm về “vùng nước lịch sử”.
Khái niệm này không được đề cập trong UNCLOS, tuy nhiên nó được xác định qua thông lệ cũng như tập quán quốc tế. Theo đó, “vùng nước lịch sử” có các đặc điểm như sau (i) Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt, ăn sâu vào đất liền hoặc là một bộ phận gắn liền với lục địa; (ii) Ở cách xa đường hàng hải quốc tế; (iii) Có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh, kinh tế… đối với quốc gia ven biển; (iv) Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng từ lâu đời mà không có nước nào phản đối. Chế độ pháp lý của vùng nước lịch sử là tương đương với chế độ pháp lý của nội thuỷ. Bắc Kinh đã dựa vào điều (iv) ở trên, lập luận – như lời của phó phòng Chính sách đối ngoại thuộc vụ Châu Á của bộ Ngoại giao Trung Quốc Zheng Zhenhua – rằng “những hòn đảo trong khu vực đã có người Trung Quốc sinh sống từ thời Đông Hán (năm 23 tới năm 220 sau Công nguyên)”, và “người Trung Quốc đã thiết lập một kiểu chính phủ “giống với hiện tại” từ thời Tống (năm 420 tới năm 478 sau Công nguyên) “như là một bằng chứng cho chủ quyền không thể chối cãi của mình.
| Tham gia nhưng không tuân theo, rõ ràng UNCLOS là một cái ô rất hiệu quả đối với Trung Quốc trên cả hai phương diện là tranh giành và bảo vệ lợi ích, với kỹ thuật “lộng giả thành chân”, diễn giải những điều khoản được ghi trong luật sao cho có lợi nhất. |
Thứ ba, tham gia UNCLOS sẽ đảm bảo được lợi ích chắc chắn cho Trung Quốc mà không lo bị can thiệp hay giành mất lợi ích từ các nước khác, đặc biệt là Mỹ. Hiện nay, Mỹ vẫn chưa ký kết UNCLOS và theo một số nhà nghiên cứu, đó chính là nguyên nhân khiến các tranh chấp ở Biển Đông rất khó giải quyết, bởi nó thiếu một quyền lực lớn để thúc đẩy giải quyết tranh chấp theo luật. Mỹ không tham gia UNCLOS nên không thể ép Trung Quốc hành xử theo UNCLOS và cũng khó để can thiệp trực tiếp vào Biển Đông. Còn nếu Mỹ tham gia UNCLOS trong tương lai thì Trung Quốc cũng có thể dựa vào UNCLOS để yêu cầu Mỹ hành xử theo luật, từ đó giảm sức ép quân sự từ phía Mỹ và tránh được thế đối đầu trực tiếp với siêu cường. Khi Mỹ không thể can thiệp vào khu vực, Trung Quốc sẽ có thể sử dụng kết hợp cả sức mạnh và luật pháp nhằm tạo ra chiến lược liên hoàn, nhằm giành lấy các lợi ích mong muốn. Và khi thất thế hoặc mất đi sức mạnh, Trung Quốc vẫn còn một chỗ dựa về luật pháp là UNCLOS để đảm bảo cho các lợi ích lâu dài.
Rõ ràng UNCLOS là một cái ô rất hiệu quả đối với Trung Quốc trên cả hai phương diện là tranh giành và bảo vệ lợi ích, với kỹ thuật “lộng giả thành chân”, diễn giải những điều khoản được ghi trong luật sao cho có lợi nhất. Xét trên góc độ lịch sử, các cường quốc vào thời điểm này hay thời điểm khác đều cố gắng tận dụng triệt để các thiết chế luật pháp quốc tế theo lợi ích riêng. Từ Tây Ban Nha, Anh ở thời kỳ phát kiến địa lý cho đến Mỹ trong một thế kỷ trở lại đây, đều cố gắng sử dụng ảnh hưởng của mình để tạo ra các khung thiết chế có lợi, hoặc tiến hành chỉnh sửa lại các thiết chế đó theo một cách riêng. Trung Quốc hiện nay không thể tạo ra luật mới do họ đang trong một bối cảnh thế giới đan xen lợi ích chồng chéo, với Mỹ vẫn đang là cường quốc số một. Việc phải tuân thủ luật chơi chung để không bị cô lập là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, với tinh thần dân tộc bị thổi phồng, não trạng nước lớn, Bắc Kinh khó có thể để những điều luật đó kiểm soát hành vi, và họ chắc chắn sẽ tìm cách này hay cách khác nhằm “biến hoá” những thiết chế luật đó cho phù hợp với hoàn cảnh và mục đích. Diễn giải sai lệch sẽ là phương pháp hữu hiệu đối với Bắc Kinh trong thời điểm hiện nay. Và UNCLOS là thí dụ điển hình.
Để không ai có thể lợi dụng UNCLOS
Chưa bao giờ như lúc này Việt Nam cần chỉ rõ cho thế giới thấy lý lẽ của chúng ta. Cũng chưa bao giờ như lúc này Việt Nam cần cho thế giới thấy cách tiếp cận của ta là khác Trung Quốc, theo nghĩa ta muốn giải quyết hoà bình, chứ không muốn làm vấn đề thêm nghiêm trọng. Lẽ phải chỉ trở thành nhận thức khi nó được truyền đạt qua những kênh thông tin hiệu quả. Trên hết nên tránh chỉ đề cập những điểm chung chung, chiến lược tuyên truyền hay “phản tuyên truyền”. Trước những quan điểm hay bằng chứng sai lệch của Trung Quốc, cần đi vào những điểm hết sức cụ thể, dựa trên hệ thống lập luận và dẫn chứng chuẩn sát, phù hợp với chuẩn mực và tập quán chung của cộng đồng thế giới. Có hai điểm cần bàn đến theo thứ tự trước sau. Một là thống nhất lại cách hiểu về quy chế pháp lý đảo tại vùng tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa, để phân định ra vùng tranh chấp, và vùng hoàn toàn không tranh chấp. Qua đó chỉ rõ cho công luận quốc tế rằng cách lựa chọn của Trung Quốc về pháp lý đảo ẩn giấu đằng sau đó những toan tính chính trị “biến không thành có” làm phức tạp thêm tình hình. Hai là chuẩn bị một hệ thống bằng chứng chủ quyền lãnh thổ các đảo ở hai vùng đảo. Các tài liệu hay bằng chứng này cần được chuyển ngữ dần dần sang tiếng Anh để làm nguồn khảo cứu quan trọng cho các tranh cãi pháp lý sau này.
Không thể để một bên nào đó sử dụng UNCLOS hay bất kỳ công cụ pháp lý nào khác để tạo tính chính danh, định hướng và lôi kéo dư luận quốc tế về một hướng. Nhất là khi chiều hướng đó lại sai lệch và mang nhiều áp kiến chủ quan.
Nguyễn Chính Tâm
– Vũ Thành Công – Nguyễn Thế Phương
| Kiểu suy diễn vô lý của yêu sách về đường lưỡi bò
Cùng với việc tuyên bố chủ quyền với các đảo và quần đảo trong “vùng nước lịch sử” – một khái niệm vốn không được đề cập trong UNCLOS, Trung Quốc còn yêu sách cho tất cả các đảo, đá và quần đảo này “của mình” có đầy đủ chế độ của lãnh thổ đất liền. Theo đó, tất cả các đảo, đá và quần đảo của Trung Quốc đều có lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế EEZ, mà không phân biệt đảo, đá đó phù hợp quy định chế độ đảo của UNCLOS hay không. Theo UNCLOS, chỉ những đảo phù hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng mới được hưởng chế độ pháp lý của đảo như lãnh thổ đất liền. Còn về quần đảo thì UNCLOS không diễn giải. Nhưng điểm đáng lo ngại ở đây là, theo lập luận của Trung Quốc, nếu trong vùng đặc quyền kinh tế của các đảo đó có một đảo khác, thì đảo này sẽ thuộc chủ quyền của Trung Quốc và lại tiếp tục được hưởng chế độ pháp lý đảo như lãnh thổ đất liền. Việc “nối chủ quyền” này đã dẫn tới kết quả là không chỉ những đảo của các nước khác nằm trong khu vực 200 hải lý xung quanh các đảo của Trung Quốc sẽ bị Trung Quốc coi là đảo của mình một cách trắng trợn, hơn thế nữa, ranh giới đường lưỡi bò cũng sẽ được mở rộng hơn 80% Biển Đông và thậm chí chỉ cách một số bờ biển của các nước Philippines, Việt Nam… vài chục kílômét. Trung Quốc đang một mặt thì yêu cầu các nước khác tuân thủ UNCLOS, mặt khác thì kết hợp việc diễn giải sai lệch và không tuân thủ UNCLOS với các ấn phẩm và các nghiên cứu Biển Đông không chính xác đang tràn ngập trên thế giới, nhằm tạo ra cơ sở pháp lý và tính chính danh cho các hành động yêu sách chủ quyền của mình trên Biển Đông.
|