Hợp đồng của niềm tin
SGTT Xuân 2012 - Năm qua, nợ công là vấn đề vừa riêng, vừa chung của thế giới. chung vì nó cho thấy cuộc khủng hoảng toàn cầu dường như đã qua, nhưng hệ quả của nó còn ở lại. Riêng, bởi vì trong vòng xoáy của cơn khủng hoảng, mối liên hệ giữa nợ công và vấn đề thiết lập - duy trì niềm tin của từng quốc gia lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
|
“Cái nợ” của Vinashin không phải chỉ là chuyện riêng của một công ty đóng tàu làm ăn thiếu hiệu năng và tắc trách, mà còn là cái gánh nợ của chung, vì đã làm giảm “khả tín” của nhiều đơn vị kinh tế khác có nhu cầu kinh doanh đàng hoàng và hiệu quả. Ảnh: Công Khanh
|
Ở xã hội bình thường, niềm tin bắt đầu từ pháp luật. Tôi tin anh giữ cam kết thực hiện hợp đồng vì tôi biết nếu anh tráo trở thì sẽ có luật pháp chế tài. Luật pháp đem lại cho mỗi cá nhân tham gia một kỳ vọng là nếu mình không vi phạm thì lợi ích bản thân sẽ được đảm bảo. Trừng phạt là phương tiện của công lý, nhưng nó chỉ tồn tại khi có một cơ quan đảm bảo rằng công lý sẽ được thực thi. Tuy nhiên, trong trật tự mà một thiết chế quyền lực cao nhất không tồn tại thì bài toán khó hơn nhiều. Khi một bên mắc lỗi (chẳng hạn chính phủ nợ nước ngoài cao, thâm hụt cán cân thương mại và ngân sách trong thời gian dài), họ phải trả giá. Hỏi thị trường thì sẽ được câu trả lời ngắn gọn: rút vốn đầu tư, đồng nội tệ bị tấn công, đầu cơ tràn lan... và hệ quả sẽ là đình đốn, thất nghiệp, kinh tế khủng hoảng.
Dẫu bất đồng hay tán thành, có hai luật chơi đang song song tồn tại, đó là “bàn tay vô hình” đối đầu với “định chế hữu hình”. Quyết định của thị trường vận hành theo quy tắc cung cầu với tầm ảnh hưởng xuyên quốc gia. Trong khi đó, mỗi chính phủ chỉ có trong tay những biện pháp quản lý tầm mức trong lãnh thổ. Mức độ hội nhập vào thị trường toàn cầu càng cao thì khả năng ảnh hưởng của bên ngoài càng nhiều. Không thể “đắp đê, xây rào” như trong quá khứ, vì đóng cửa đồng nghĩa hạn chế bớt cơ hội của mình. Thích ứng với thị trường quốc tế, nhà nước phải chấp nhận quá trình chuyển hoá.
Thị trường quốc tế – khi đó – dường như vừa là thù, cũng vừa là bạn, vì chính nó tạo chất xúc tác hướng tới một mô hình chính phủ hiệu năng, tập trung những nhiệm vụ trọng tâm, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mang tính chiến lược nhằm nâng cao tính cạnh tranh cho hệ thống doanh nghiệp. Một hợp đồng “niềm tin” với thị trường chỉ có thể thành hình khi ổn định thu chi tài chính công, duy trì chính sách tiền tệ nhất quán, phối hợp đồng bộ các chính sách vĩ mô ở góc nhìn kinh tế và cả thay đổi lăng kính chính trị như hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường, chống tham nhũng, tinh gọn bộ máy được đặt ở vị trí trung tâm. Không nhất quán trong từng bước đi chính sách, không giải trình minh bạch các quyết định về tài khoá thu chi hay không tạo cơ chế chế tài các tầng lớp lợi ích đặc quyền, từ vai trò “tác nhân ổn định”, nhà nước trở thành nguyên nhân dẫn đến các hậu quả.
Hy Lạp, Ý hay Tây Ban Nha là những bài học sống động về một niềm tin bị tan vỡ. Và không ở tận châu Âu xa xôi, thử thách cho “hợp đồng niềm tin” của nền kinh tế nước ta là một bài toán dai dẳng chưa tìm được đáp số rõ ràng gần hai năm qua. Cuối năm 2010, trong thời điểm mà Vinashin tới hạn trả các khoản nợ bằng ngoại tệ, tổ chức chuyên đánh giá tín dụng Standard & Poor đã đánh tụt chỉ số tín dụng dài hạn của tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam. Cuối năm 2011, câu chuyện Vinashin một lần nữa lại dấy lên sự lo ngại về sự đổi thay lòng tin của thị trường quốc tế đối với nhiều tập đoàn kinh tế. Chỉ số về nợ tăng, nợ xấu nhiều, dẫn đến khả năng đi vay sẽ khó và mắc hơn, khi nhu cầu vay vốn phát triển là chính đáng. “Cái nợ” của Vinashin không phải chỉ là chuyện riêng của một công ty đóng tàu làm ăn thiếu hiệu năng và tắc trách, mà còn là cái gánh nợ của chung, vì đã làm giảm “khả tín” của nhiều đơn vị kinh tế khác có nhu cầu kinh doanh đàng hoàng và hiệu quả.
Nguyễn chính Tâm