Oan sai và nguyên tắc suy đoán vô tội
SGTT.VN - Một người làm thuê cho nhà vườn được tuyên bố trắng án sau bảy năm bị cáo buộc vào các tội hiếp dâm và giết người, thậm chí có lúc đã nhận lãnh hình phạt tử hình theo một bản án đã tuyên chờ được thi hành. Vụ án kéo dài và tốn nhiều công sức của các cơ quan tố tụng cũng như của giới truyền thông, rốt cuộc đã khép lại với một kết cục có hậu cho bị cáo, như trong tiểu thuyết.
|
Tô phở nóng và li cà phê sữa đá ngon nhất trong đời của Lê Bá Mai, buổi sáng 25.5, ngày tự do đầu tiên sau bảy năm lao lý. Ảnh: Trần Việt Đức
|
Lý do để xếp hồ sơ đơn giản là không có đủ chứng cứ để buộc bị cáo vào các tội danh dự kiến. Bị cáo được trả tự do theo đúng một nguyên tắc được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành: cơ quan chức năng có trách nhiệm chứng minh một người nào đó là có tội; trong khi người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, được gọi là bị can hay bị cáo tuỳ theo giai đoạn tố tụng, không có nghĩa vụ chứng minh là mình không có tội. Nói khác đi, mọi người vướng vào vòng lao lý đều được suy đoán ngoại phạm cho đến khi những bằng chứng chống lại họ được trưng ra một cách thuyết phục.
Nguyên tắc suy đoán vô tội không phải từ trên trời rơi xuống. Đó là kết quả của cả một quá trình tiến hoá của luật pháp, diễn ra song song với quá trình tiến hoá của xã hội, từ tình trạng lộn xộn, hỗn mang, tuỳ tiện đến chỗ có trật tự, có tổ chức ngày càng tốt và chặt chẽ.
Có thể với nguyên tắc này, nhà chức trách, xã hội buộc phải để một người bị tình nghi được tự do, cũng như phải chịu bó tay trong việc truy tầm thủ phạm của một tội ác. Vụ án nói trên là một ví dụ điển hình. Tuy nhiên, nếu việc bỏ lọt tội phạm có khiến một gia đình phải chịu mất mát không thể bù đắp, thì việc kết tội oan cho một người khiến có đến hai gia đình bị thiệt hại và chịu đau khổ một cách bất công, chưa kể những hệ luỵ xã hội tiêu cực kéo theo.
Trong lĩnh vực chế tài, xử phạt, có một nguyên tắc còn cao hơn nữa chi phối hành vi ứng xử của người nắm giữ công lực khi tác nghiệp, đó là phải dựa vào sự thật khách quan để ra quyết định xử lý. Một khi vì lý do gì đó mà sự thật không bộc lộ, thì phải thực hiện những biện pháp thích hợp theo thẩm quyền để tìm và lôi nó ra ánh sáng.
Được trao chức năng quản lý, gìn giữ trật tự xã hội, bảo đảm cuộc sống yên lành của người dân, mỗi khi có dấu hiệu của một vụ phạm pháp, thì công lực phải tích cực điều tra để phát hiện người vi phạm. Về phần mình, cơ quan công tố phải xử lý tốt việc đánh giá và đối chiếu chứng cứ thu được với các quy định tương ứng của pháp luật để cáo buộc cho chính xác; còn quan toà phải lắng nghe các ý kiến khác biệt do các bên trong cuộc xung đột lợi ích đưa ra, rồi phải cân nhắc theo luật pháp, lương tâm trước khi phán xét, phân xử.
Có điều chắc chắn là xã hội phải chấp nhận có những vụ vi phạm pháp luật bị bỏ lọt, tạm thời hoặc vĩnh viễn, bất chấp các nỗ lực của các cơ quan có trách nhiệm và có thẩm quyền. Suy cho cùng, cả việc phát hiện, cũng như việc để lọt các vụ vi phạm pháp luật, đều là những điều bình thường. Tương tự, những quyết định xử lý chính xác, công minh, cũng như những quyết định xử phạt sai lầm, oan uổng đều có thể hiểu và chấp nhận được. Lý do là hệ thống quản lý, hệ thống tư pháp, cũng như chính những con người giữ các vị trí trong các hệ thống đó, không bao giờ hoàn hảo.
Dẫu sao, mỗi khi xảy ra một trục trặc nào đó trong quá trình vận hành của hệ thống, thì chính người nắm quyền lực công phải giải trình, cho thấy mình đã làm tất cả những gì có thể, phù hợp với luật pháp, với đạo lý và với đầy đủ tinh thần trách nhiệm.
Bởi trong điều kiện Nhà nước được coi là người phục vụ xã hội, luật pháp không thiết lập nguyên tắc cho phép nhà chức trách được hưởng sự suy đoán hoàn thành nhiệm vụ trong trường hợp bị công kích, và đẩy cho xã hội, công luận trách nhiệm chứng minh điều ngược lại.
PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện
Đọc thêm: