Tỷ lệ nào cho doanh nghiệp nhà nước?
SGTT.VN - Giáo sư Rainer Stachuletz đến từ trường đại học Kinh tế và luật Berlin bấm đèn laser lên một biểu đồ loằng ngoằng. Ông đang trình bày nhận định là tỷ lệ đầu tư nhà nước bằng 0 cũng như bằng 100% (nhà nước hoàn toàn) đều không tạo ra kích thích tăng trưởng kinh tế, và kết luận: “Tỷ lệ nhà nước tối ưu nằm ở mức 35% (GDP)”.
Thính giả của vị giáo sư Đức này gồm các nhà kinh tế Việt Nam, các nhân viên của bốn văn phòng Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Chính phủ, Quốc hội trong một hội thảo mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế: phân bổ nguồn lực tài chính và vai trò kinh tế tư nhân” do uỷ ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức hôm qua.
Kết luận của vị giáo sư động chạm tới vấn đề đang được quan tâm nhất ở Việt Nam khi người ta đang xem xét vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong quá trình chuẩn bị văn kiện cho Đại hội Đảng sắp tới. Các báo cáo của Chính phủ cho rằng, khu vực doanh nghiệp nhà nước đang đóng góp khoảng 40% GDP, trong khi báo cáo của một số chuyên gia kinh tế độc lập lại cho rằng, tỷ lệ này chỉ là 27% GDP. Mặc dù vậy, con số nào cũng không quan trọng bằng thực tế là khu vực này đang được hưởng rất nhiều nguồn lực, chính sách ưu ái, lấn áp khu vực kinh tế tư nhân nhưng không mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Có người vẫn muốn nó giữ “vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế, trong khi tiếng nói của các nhà kinh tế thì ngược lại. Trong bối cảnh đó, giáo sư Rainer có lẽ không ngờ tới, đánh giá của ông đã gây nên nhiều tranh luận của các nhà kinh tế vốn muốn thu hẹp khu vực kinh tế này.
|
“Sau năm 2007, quá trình tư nhân hoá ở Việt Nam mất dần tính năng động của nó (như những giai đoạn trước), rồi cuối cùng đi đến đình trệ”.
Giáo sư Rainer Stachuletz, đại học Kinh tế và luật Berlin
|
Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh nói: “Ông ấy vẽ một cái hình cong rồi bảo tỷ lệ nhà nước là 35% là tối ưu thì chả có ý nghĩa khoa học gì cả. Loài người chưa bao giờ phát minh ra một cơ chế như vậy”. Liên hệ đến thực trạng của Việt Nam, ông Doanh cho rằng sở hữu của Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước là điều đáng bàn cãi vì cơ chế quản lý lỏng lẻo, vô trách nhiệm. Tiến sĩ Võ Trí Thành của viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đồng ý điểm này: “Quản trị lỏng lẻo ở doanh nghiệp nhà nước đưa đến hai vấn đề cơ bản là rủi ro đạo đức và xung đột lợi ích”. Trong khi đó, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành thuộc trường đại học Quốc gia Hà Nội chỉ ra thực tế là khu vực kinh tế nhà nước được ưu đãi trong hàng thập kỷ qua đã để lại một di sản “không lành mạnh”. “Tinh thần kinh doanh, đổi mới công nghệ, chiếm lĩnh thị trường (quốc tế) không có ở Việt Nam vì các doanh nghiệp nhà nước không cần phải làm thế mà vẫn giữ được vị trí chi phối, thống lĩnh thị trường”. Bên cạnh đó, ông Thành nhận xét thêm, nhiều doanh nghiệp nhà nước đang được giao nhiều trách nhiệm: đảm bảo an sinh xã hội, bình ổn thị trường, chống lạm phát, có nghĩa là gắn hoạt động sản xuất kinh doanh của họ với quá trình ra chính sách. “Điều đó có nghĩa các doanh nghiệp nhà nước có quan hệ chính trị rất gần gũi với các cơ quan nhà nước. Vậy thì họ chả có động lực kinh doanh, hay mở thị trường, hay cạnh tranh quốc tế”. Tiến sĩ Phạm Hồng Chương của trường đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, không nên tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước vì những kết quả kiểm toán đều chỉ ra quản trị và đạo đức kinh doanh “đều rất yếu kém” ở khu vực này. Ông nói: “Tư nhân hoá là con đường chúng ta phải đi”.
Trong khi đó, bà Vũ Thị Kim Liên cho rằng, minh bạch hoá tất cả các hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là biện pháp quản trị tốt nhất. Bà nói: “Vì sao doanh nghiệp nhà nước sở hữu toàn dân lại không minh bạch? Tôi nghĩ chúng ta phải coi các tập đoàn nhà nước, tổng công ty lớn là các công ty đại chúng lớn nhất. Họ cần công bố thông tin định kỳ công khai như những công ty niêm yết”.
Tổng kết điểm này, chủ nhiệm uỷ ban Kinh tế Quốc hội Hà Văn Hiền nói: “Vậy tỷ lệ nhà nước ở nước ta như thế nào khó có thể kết luận ngay được”.
Trước tất cả những ý kiến này về khu vực doanh nghiệp nhà nước – một phần trong chương trình nghị sự, giáo sư Rainer đã không phản bác lại. Là chuyên gia làm việc tại học viện Ngân hàng Việt Nam tại Hà Nội, ông đã thấu hiểu vấn đề này. Trong bài tham luận của mình, ông nhìn nhận: “Sau năm 2007, quá trình tư nhân hoá ở Việt Nam mất dần tính năng động của nó (như những giai đoạn trước), rồi cuối cùng đi đến đình trệ”. Nhận xét đó là hiển nhiên, nhưng bản chất của hiện tượng đó thật đáng để bàn cãi, và chắc chắn sẽ được bàn cãi trong những tháng tới đây.
Tư Giang