Bàn tròn số 17
Chính danh và hư danh
Nguyễn Trọng Tín: Kì này ta bàn về Chính danh và hư danh. Có thể nói chưa bao giờ tệ nạn bằng giả, học hàm học vị dởm ghê gớm như lúc này. Thực trạng này ai cũng biết, vấn đề là tìm kiếm nguyên nhân và giải pháp để hạn chế và dẹp bỏ nó. Để nhanh chóng vào cuộc, tui xin đưa câu hỏi thứ nhất:
Xin các bác cho ý kiến của mình về chính danh và hư danh?
Nguyễn Minh Sơn: Đây là đề tài muôn thủa nhưng mà hay.
Nguyễn Quang Lập: Tuy là chuyện muôn thủa nhưng đối với ta thì nó rất thời sự. Thích hư danh, lấy hư danh để lừa phỉnh người đời ở đâu cũng có, thời nào cũng có. Nhưng chưa thời nào hư danh tràn ngập khắp nơi, tuồng như trở thành một dòng chảy chủ đạo của cuộc sống như thời này. Từ những danh hiệu, những giải thưởng, những danh xưng… đến nạn bằng cấp giả, học hàm giả học vị dởm… có mặt bất kì địa phương nào, ngành nghề nào, thậm chí ở ngay chính nơi phong cấp, ở chính những người gọi là đạo cao đức trọng. Rất kinh khủng.
Nguyễn Minh Sơn: Vâng. Em xin nói trước. Đầu thế kỷ trước, cụ Phạm Quỳnh đã viết: “Dân ta là dân rất hiếu danh, mà hiếu hư danh, tật đó dẫu người nông nổi xét xã hội mình cũng đủ biết. Từ trên xuống dưới từ thấp chí cao, từ anh khố rách trong làng cố cầu cạnh cho được chức trương tuần phó lý để được người ta khỏi gọi là bố đĩ, bố cu cho đến bậc phú thương nơi thành thị thi nhau mà mua lấy tiếng ông bá ông hàn để ra mặt thượng lưu trong xã hội, cậu cả cậu hai luồn lót hàng chục hàng trăm để được gọi là thầy thông thầy phán, hết thảy đều như có cái ma lực nó run rủi, phải cố chuốc lấy chút danh tiếng hão mới mãn nguyện”. Cụ Phan Kế Bính cũng liệt kê cái tính chuộng danh hão của người Việt vào loại thói hư tật xấu. Như vậy có thể nói, hiếu danh đã có sẵn trong “máu” của người Việt. Từ hiếu danh đến hiếu hư danh chỉ một con đường. Bản lĩnh như Nguyễn Công Trứ cũng không kiềm chế nổi khi thốt lên: “Làm trai đứng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”. Đã chạy theo danh tất phải chạy theo hư danh. Chúng ta không có những triết gia như Lão Tử để kiềm chế bớt tật xấu miên viễn của xã hội được.
Nguyễn Quang Lập: Cụ Phạm Quỳnh nhận xét rất hay, tuy cuộc đời cụ cũng không thoát khỏi thói “hiếu hư danh” mà cụ nói. Háo hư danh là thói xấu quê mùa, xuất phát từ mặc cảm bị coi thường, tất nhiên ở một nước nhược tiểu như ta thì thói đó có cơ hội để phát triển. Điều đó ai cũng biết. Có một nguyên nhân nữa, tôi nghĩ đó chính là bệnh tật của những anh Đại Lãn. Lười biếng nằm chờ sung rụng thì lâu lắm, chờ vận đỏ rơi trúng đầu thì khó lắm, thôi thì tìm món giả sung để bịp mình và bịp đời cho nó xong.
Võ Đắc Danh: Bác Lập nói đúng lắm. Không nói đâu xa, ngay trong giới văn nghệ của chúng ta đây thì cái hư danh nhìn đâu cũng thấy. Không thể đếm hết những anh cố viết cho đủ đầu sách để chen vào cái hội nhà văn, còn sách thì ra sao cũng được. Rồi bao nhiêu là "nghệ sĩ ưu tú", "nghệ sĩ nhân dân" thử nhìn qua thì biết đâu là hư danh, đâu là thực tài. Lười là một chuyện, còn chuyện biết mình không thực tài bèn giở trò láu ra cũng là một lý do.
Hồ Trung Tú: Trong tộc tui có một anh tiến sĩ là giáo viên trường Đảng và đề tài tiến sĩ của anh là chuyện xây dựng Đảng; một người quen khác thì đề tài là "Cách mạng tháng Tám và...". Ở đâu không biết chứ mỗi lần giỗ chạp thì cái học vị tiến sĩ của anh oách lắm. Cả họ ai cũng tự hào. Biết làm sao được! Không lẽ trách dân trí ta thấp không phân biết đâu là thực danh đâu là hư danh để cho đám trí thức giả cầy giở trò láu? Nói chuyện này thấy đắng ngắt, chán.
Nguyễn Trọng Tín: Đúng là thói hám hư danh thật lắm chuyện bi hài. Tui ví dụ điều lệ Hội nhà văn Việt Nam qui định, một người muốn trở thành hội viên thì phải có 2 cuốn sách sáng tác được xuất bản. Nghe thì có vẻ chuyên nghiệp, nhưng chuyện này bây giờ quá dễ. Chỉ cần bỏ ít thời gian… tưởng tượng, viết quẹt quẹt ra giấy rồi nhờ (có thù lao ăn nhậu) một người có nghề hơn “nhuận sắc”, lựa một nhà xuất bản có cái nhãn cho oai, mua cái giấy phép vài trăm ngàn, in ra vài trăm cuốn, thế là đủ tiêu chuẩn. Khó hơn là cái đơn phải được nhiều hơn phân nửa số thành viên của một hội đồng hoặc một ban đặc trách của hội Nhà văn bỏ phiếu đồng ý. Từng có thời gian ngắn tham gia làm thành viên của một trong những hội đồng này, hàng năm tới “mùa kết nạp” tôi thường nhận được hơn trăm quyển sách tặng, toàn những cái tên lạ hoắc. Trước khi họp bỏ phiếu, đã gần như thông lệ, các thành viên của hội đồng lại “gởi” nhau kiểu “bánh ít đi bánh qui lại”, anh cho gà tôi một phiếu, tôi sẽ cho lại gà anh một phiếu. Thế là vào. Thế là một người đã có tiền, đôi khi là đã có quyền, bây giờ lại toại nguyện vì một cái danh. Mà là danh văn hóa hẳn hoi. Chuyện hư danh ta nói tới khuya cũng không hết, bây giờ phải tìm kiếm nguyên nhân, tui xin sang câu thứ hai đây:
Ở nước ta, rời bỏ chính danh chạy theo hư danh là một thực trạng đáng báo động. Vì sao như thế?
Nguyễn Minh Sơn: Em lại xin nói trước. Xã hội hiện nay chạy theo hư danh bởi cái danh gắn liền với cái thực. Ví dụ như chính sách ưu đãi nhân tài của thành phố Đà Nẵng có tiêu chuẩn thực về tiền bạc và nhà cửa cho thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư… Một doanh nghiệp có huân chương, sao này sao nọ khi giao dịch cũng thuận lợi hơn một doanh nghiệp chân trắng nên phải đua theo huân chương. Đơn giản như một người muốn dạy đại học phải có bằng thạc sĩ… nên mới có chỉ tiêu 20.000 tiến sĩ vào năm 2020… Chúng ta không biết gạn lọc, phân định thực tài nên tính hiếu danh bùng phát trong xã hội thành hư danh. Em đã từng chứng kiến một vị phó chủ tịch một thành phố giận dữ trong một buổi lễ khi người dẫn chương trình lỡ quên hai chữ “tiến sĩ” trước tên bà ta… Thật khủng khiếp!
Nguyễn Quang Lập: Chú Sơn quên mất chuyện một ông phó bí thư thường trực tỉnh ủy có bằng tiến sĩ chỉ sau sáu tháng “đào tạo”. Một giám đốc sở Văn hóa thể thao và Du lịch có bằng tiến sĩ của Mỹ trong khi không thạo tiếng Anh. Một giám đốc sở Y tế có bằng thạc sĩ chỉ sau 40 ngày “học”, vân vân và vân vân… và vô vàn giáo sư, nghệ sĩ, tiến sĩ, thạc sĩ cùng với vô vàn các giải thưởng phù phiếm đổ xuống đầu những kẻ háo danh.
Vì sao người ta nô nức rời bỏ chính danh chạy theo hư danh ghê gớm đến như vậy? Đó là những câu hỏi đau buốt. Ở cái thời mà đạo đức giả lên ngôi thì tìm kiếm câu trả lời vừa dễ lại vừa khó. Dễ là nhìn thấy mười mươi, khó là ít ai công khai thừa nhận nó.
Đảng và Nhà nước ta luôn có chính sách trọng dụng hiền tài. Ngay trong luật Công chức cũng đã ghi rất rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng. Chính phủ quy định cụ thể chính sách đối với người có tài năng”. Vấn đề ở chỗ thế nào là tài năng thì luật đã không nói đến. Từ đó người ta tự do thoải mái định danh theo cách người tài là người có bao nhiêu giải thưởng, bao nhiêu huân huy chương, học hàm thế nào, học vị ra sao… Ở thời buổi tham nhũng là quốc nạn này thì đó là cơ hội để cho người ta mua danh bán tước, thoải mái ban thưởng cho nhau.
Hồ Trung Tú: Bác Lập nói phải lắm, tui chỉ xin bổ sung chút xíu. Tui nghĩ cũng không hẳn là rời bỏ chính danh mà vì hư danh thì dễ và cũng đem lợi như chính danh. Ai mà không thích chuyện dễ, nhất là khi mình có quyền và tiền trong tay. "Vịnh tiến sĩ giấy" của Nguyễn Khuyến ngày xưa cũng vậy đó thôi. Ngày xưa cả nước mỗi 2-4 năm mới có chục tiến sĩ, vậy mà thời suy vi vua đem bán và người ta vẫn mua. Nay chuyện mua bán cũng lềnh. Nghe ông tổng giám đốc công ty giao thông miền Trung nọ có bằng tiến sĩ mà tui khiếp. Đây không phải là chính danh hay hư danh nữa mà là cái gì đó giống với thời loạn lạc, thời mất hết các chuẩn mực cơ bản của xã hội. Tui có bi quan quá không nhỉ?
Võ Đắc Danh: Nói đi nói lại rồi cũng quay về ông cơ chế. Vì sao rời bỏ chính danh để chạy theo hư danh? Có lẽ, kể từ khi có quy định muốn bổ nhiệm một chức vụ nào đó phải có bằng đại học hoặc cao học thì người ta bắt đầu một cuộc đua bằng cấp, đến một lúc nào đó chợt thấy "cả một đội ngũ" trở thành cử nhân, thạc sĩ, mặc dù, thực chất trình độ học vấn của họ chưa hết cấp hai. Tôi có một anh bạn, lúc đang học đại học tại chức, người ta cho nợ bằng tốt nghiệp cấp ba, đến gần kỳ thi tốt nghiệp đại học, anh ta làm hồ sơ thi tốt nghiệp cấp ba thì người ta đòi phải có bằng tốt nghiệp cấp hai, anh ta lại chạy đi làm hồ sơ thi tốt nghiệp cấp hai, người ta lại đòi phải có bằng tiểu học. Vậy là anh ta phải đi dự thi tốt nghiệp BTVH cấp I. Có kẻ hát ngạo rằng: Sinh con rồi mới sinh cha/Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.
Nguyễn Trọng Tín: Các bác nói rất hay. Tui chỉ xin thêm một chút. Nói là hư danh cũng không hoàn toàn đúng. Các học vị ấy, các danh hiệu ấy bao giờ cũng đem đến lơi lộc hay những điều kiện kiếm tiền, kiếm quyền, kiếm ưu thế hơn người cho những kẻ được nhận nó. Chỉ có điều sự hiểu biết, tư cách của người ấy không xứng với cái danh mình được mang thôi. Qui chế muốn thế, xã hội mặc nhiên thừa nhận như thế, thì tôi làm thế, mà không phải một mình tôi. Dù danh hảo cũng không ai dám công khai nói hảo, vì nó được thừa nhận kia mà. Bi kịch là ở chỗ ấy đấy. Bây giờ tui sang câu hỏi cuối:
Để hạn chế hoặc chặn đứng tệ nạn này cần có giải pháp nào?
Hồ Trung Tú: Công khai thông tin! Chuyện đã vở lỡ rồi, lập lại trật tự là điều vô cùng khó. Tui vẫn thích ý nên có một trang web công bố toàn bộ nội dung của các tiến sĩ trên cả nước. Thay vì làm bia đá như đã có đề xuất, tui nghĩ làm trang web này "thiết thực" hơn nhiều. Chuyện dễ ợt mà đố ai dám làm đó!
Võ Đắc Danh: Cái chính là phải đổi mới tư duy khi chọn người tài đi. Quan niệm lãnh đạo phải có bằng cấp, phải có danh hiệu, bất chấp đó là bằng cấp chuyên môn gì, danh hiệu gì, một mặt đã đánh đồng giữa cái tài quản lý với tài chuyên môn, mặt khác tạo cơ hội vàng cho người ta mua bằng cấp bất chấp bằng cấp gì, miễn là cao. Bởi vì chỉ cần anh có cái bằng để làm lãnh đạo chứ không phải để sáng tạo, sáng tác hay nghiên cứu gì thì hà cớ gì không mua lấy một tấm bằng? Chính quan niệm đó đã tạo cơ hội cho mấy anh bất tài núp bóng hư danh để chui sâu leo cao.
Nguyễn Quang Lập: Bác Danh nói đúng. Chính bổ nhiệm cán bộ, công chức dựa trên bằng cấp, không cần biết bằng cấp gì đã dẫn đến có rất nhiều lãnh đạo có trình độ học vấn giả danh. Đồng thời lôi kéo cán bộ, công chức bị vào một cuộc biến hình trên quy mô xã hội bất chấp các quy chuẩn tối thiểu của đạo đức và học thuật. Khi đó người trung thực, kẻ thực tài không có đất sống, họ bị đẩy ra rìa, bị bỏ quên, thậm chí bị làm nhục. Đây chính là điều làm nên thực hoạ. Ở bất kì nơi đâu, khi hiền tài bị ruồng bỏ, kẻ bất tài khoác áo hư danh hoành hành xã hội, thì ở đó cái hoạ lớn đã chất đầy. Vô cùng đáng sợ.
Nguyễn Minh Sơn: Em nhất trí với bác Danh bác Lập. Xã hội chúng ta tự biến thành một cái chợ danh đi kèm với lợi. Quan trọng nhất là bộ máy nhà nước phải biết phân định, ưu đãi thực danh và thực tài. Khi đó hư danh trở thành vô nghĩa.
Nguyễn Trọng Tín: Bravo các bác, rất hay. Chuyện này phải giải quyết tận gốc từ cơ chế chọn lựa người tài đức để phục vụ nhân dân. Ngày xưa, thời “phong kiến thối nát”, để chọn lựa người tài đức, ngoài thi cử còn có cơ chế tiến cử. Nhờ đó mà Chúa Nguyễn có được vị quân sư xuất chúng Đào Duy Từ; nhà Nguyễn có được vị danh tướng lừng danh Nguyễn Tri Phương… Tuy nhiên, nhận thức xã hội ngày nay cũng đã có dấu hiệu “biết xấu hổ” với hư danh. Một ví dụ nhỏ: Những cây bút trẻ sớm bộc lộ tài năng đã thờ ơ với chuyện vào hội Nhà văn. Khuynh hướng chen chân vào cơ quan Nhà nước đã bớt hấp dẫn người tài… Đây là những dấu hiệu lành mạnh.
Vâng, bàn tròn của chúng ta kết thúc được rồi, cảm ơn các bác.