SÀI GÒN TIẾP THỊ TẾT 2009
Xây dựng cuộc sống an toàn: Xã hội có đủ khả năng?
 |
|
Ẵm bé sơ sinh về trong trận lụt năm ngoái ở Hà Nội
|
Mưa bão, lũ lụt, triều cường xuất hiện với tần suất dày đặc; các nguồn nước, đồ ăn, thức uống nhiễm chất độc; dịch bệnh bùng phát; giao thông đô thị tắc nghẽn; giang hồ, xã hội đen lộng hành,… Cuộc sống, cả trong không gian tự nhiên và không gian xã hội, dường như càng lúc càng chứa đựng nhiều rủi ro, bất trắc. Nhu cầu sống an toàn, vốn là một phần của hệ thống các nhu cầu cơ bản của bất kỳ thực thể sống nào, trở nên bức bách hơn bao giờ hết trong khung cảnh xã hội đương đại.
Tất nhiên, với tư cách là người được giao sứ mạng gìn giữ trật tự xã hội, nhà chức trách chịu trách nhiệm chính trong việc đáp ứng nhu cầu đó. Xây dựng một hệ thống chuẩn mực pháp lý minh bạch, chặt chẽ, vững chãi và xây dựng, củng cố bộ máy bảo đảm thực thi pháp luật là những biện pháp chủ yếu mà nhà chức trách có quyền cũng như có bổn phận phải thực hiện, nhắm tới mục tiêu này.
Song, điều chắc chắn là Nhà nước không bao giờ có đủ tiền để thiết lập và duy trì một mạng lưới tai mắt khổng lồ và một lực lượng phản ứng nhanh chuyên nghiệp to lớn, quán xuyến được toàn xã hội, cho phép kịp thời ngăn chặn rủi ro và ứng cứu cho con người, cho môi trường, mỗi khi rủi ro thành hiện thực.
Vả lại, không thể nói rằng xã hội là một cơ thể lành mạnh nếu, để tồn tại và phát triển, nó chỉ biết hoặc chủ yếu dựa vào sự chăm sóc, che chắn, bảo bọc của nhà chức trách. Chưa nói đến chuyện đối với xã hội, nhà chức trách công cũng có thể trở thành một nguồn tạo rủi ro: ở vị trí của bên bị quản lý, xã hội sẽ trở thành nạn nhân của chính nhà chức trách, một khi bên quản lý phạm sai lầm trong tác nghiệp. Chẳng hạn, một dự báo sai về tình hình cung cầu lương thực có thể dẫn đến một quyết định sai về xuất khẩu gạo, gây thiệt hại cho nông dân; một hệ thống tính toán thiếu căn cứ khoa học được dùng để xây dựng một quy hoạch đất đai bất hợp lý, hậu quả là sự ra đời của một khu đô thị nhếch nhác, chật chội, ô nhiễm, ngập úng quanh năm, với nhiều vấn nạn xã hội;...
Bởi vậy, cần phát huy khả năng tự bảo vệ của xã hội, của từng chủ thể: với năng lực tự vệ tốt, xã hội, chủ thể không chỉ giúp nhà chức trách công giảm bớt gánh nặng quản lý; nó còn có thể đảm nhận vai trò người phản biện đối với nhà chức trách trong việc kiểm điểm, đánh giá chính sách quản lý, nhằm có những biện pháp thay đổi, điều chỉnh phù hợp.
Tư tưởng chủ đạo là phải làm thế nào để xã hội, chủ thể có thể tự mình phản ứng đúng lúc và hữu hiệu trước và sau sự can thiệp cần thiết của nhà chức trách, một cách bổ trợ hoặc độc lập với sự can thiệp đó, trong quá trình ngăn ngừa và đương đầu với rủi ro, bất trắc, xung đột. Để làm được việc này, cần phát huy hai khả năng tiềm tàng của xã hội và chủ thể.
Trước hết, đó là khả năng tự điều chỉnh, thích nghi. Mỗi thực thể sống, theo bản năng, luôn cảm nhận được việc cần làm để có thể tồn tại trong không gian chung. Được tự do hành động, con người sẽ luôn có xu hướng tìm kiếm cái tốt nhất cho mình. Sống trong xã hội có tổ chức, con người tự do sẽ biết cách điều chỉnh quyền tự do của mình trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức.
Chẳng hạn, trước khi biết xếp hàng trước quầy bán vé, chắc chắn con người, với cảm nhận hoang sơ và cực đoan về tự do, đã từng chen lấn, xô đẩy, thậm chí đánh đập nhau để giành lượt. Chính quá trình tự hoàn thiện nhận thức về bản chất xã hội của tự do giúp người ta hiểu rằng khi mỗi người đều có quyền mua vé như nhau, thì người đến sau phải nhường quyền ưu tiên mua vé cho người đến trước. Quy ước xếp hàng hình thành từ đó và là chiếc khung nuôi dưỡng, phát triển một thói quen tích cực trong giao tiếp.
Quy ước xã hội có thể can thiệp vào những nơi mà pháp luật không cần hoặc không thể vươn tay tới.
Bằng cách đó, nó cùng với pháp luật, đạo đức,… tạo thành một hệ thống chuẩn mực chi phối hầu hết hành vi của con người trong giao tiếp xã hội.
Thứ hai, đó là khả năng phản ứng tập thể và có tổ chức. Con người luôn có thiên hướng dựa vào nhau để sống. Một khi cùng nhắm đến một mục tiêu, người ta sẵn sàng hợp tác, trong khuôn khổ nhóm lợi ích, cùng hành động để đạt được mục tiêu chung. Ứng xử theo nhóm có thể tạo ra một sức mạnh tập thể giúp cả nhóm thu được lợi ích cùng theo đuổi, một cách nhanh chóng và trọn vẹn.
Ví dụ, đối với một Vedan có hành vi huỷ hoại môi trường nghiêm trọng, biện pháp trừng phạt đích đáng nhất là làm cho sản phẩm của doanh nghiệp không bán được nữa. Người tiêu dùng không thể cấm Vedan bán sản phẩm của mình, nhưng có thể từ chối mua sản phẩm, bằng cách quay lưng, tẩy chay.
Tất nhiên, nếu chỉ một hai cá thể tẩy chay, thì chẳng thấm vào đâu; thậm chí, nếu nhiều người phản ứng, nhưng một cách trùng hợp ngẫu nhiên và xuất phát từ các động cơ riêng lẻ, thì doanh nghiệp cũng không nao núng. Doanh nghiệp chỉ sợ hành động tẩy chay đồng loạt, thể hiện sự hưởng ứng tích cực và mang tính kỷ luật cao của người tiêu dùng đối với một lời kêu gọi mang ý nghĩa hiệu lệnh rành mạch, dứt khoát. Các hiệp hội dân sự tự quản, được thành lập trên căn bản tự nguyện, là những nơi có chức năng xã hội để phát những lời kêu gọi như thế.
Có điều, để việc tự điều chỉnh và phản ứng thực sự có ý nghĩa, tác dụng tích cực, là: xã hội, chủ thể phải có được đầy đủ thông tin chính xác về những gì đang diễn ra. Chỉ khi nào nhìn nhận được đầy đủ, chân thực về khung cảnh sống, đặc biệt, về những yếu tố tác động đến sự tồn tại của mình, cả tích cực và tiêu cực, con người mới có thể xác định phương án ứng xử phù hợp.
Không có thông tin và cũng không được tổ chức để hành động theo nhóm, con người riêng lẻ, khi đối phó với các tình huống lạ mà bản thân không kiểm soát được, thường chỉ còn biết dựa vào bản năng ứng xử sơ cấp của mọi thực thể sống, nghĩa là… theo bầy đàn: người này quan sát xem người kia làm gì, rồi bắt chước làm theo. Hành động tự phát đổ xô đi mua gạo, đô la Mỹ, xăng dầu,… trong năm vừa qua là minh chứng tiêu biểu.
 |
|
Con người riêng lẻ, khi đối phó với các tình huống lạ mà bản thân không kiểm soát được, thường chỉ còn biết dựa vào bản năng ứng xử sơ cấp
|
TS NGUYỄN NGỌC ĐIỆN, ảnh MAI KỲ