Ánh mắt dân cày
“ Dưới đồng ông lão đi bừa
Hệt như cụ cố ngày xưa đi cày “
SGTT Xuân 2010 - Câu ca dao mới rất hài hước ấy là của đồng chí bí thư huyện uỷ một huyện ở Thái Bình đọc cho tôi nghe trong chuyến về thăm lại nơi chúng tôi tiến hành cuộc “Khảo sát xã hội học tại Thái Bình” năm 1997 theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ khi nơi đây xảy ra sự kiện. Trong hơn mười năm nghỉ hưu, mỗi năm một lần, chúng tôi vẫn cố bố trí thời gian để về lại địa điểm khảo sát nhằm đo đếm và “hâm lại” cảm nhận về diễn tiến của sự kiện theo con mắt và trái tim của người đeo đuổi cái “nghiệp” xã hội học.
 |
Quãng 37 tuổi, bí thư huyện uỷ say sưa trình bày những ý tưởng táo bạo trong việc đưa nông nghiệp, nông thôn đi lên trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Kết luận anh rút ra là: nếu được chấp nhận những ý tưởng đó, chỉ trong vòng một nhiệm kỳ, huyện của anh sẽ có chuyển biến thật sự. Trong những ý tưởng táo bạo của anh có vấn đề làm thế nào để xoá bỏ tình trạng manh mún, tản mạn của ruộng đất hiện nay. “Không tập trung được ruộng đất, không sao chuyển đổi được cơ cấu lao động, ngành nghề, áp dụng khoa học và kỹ thuật mới”. Trả lời cho câu hỏi làm sao tập trung ruộng đất, anh cười dí dỏm: “Trước hết là phải thay đổi cách nghĩ quen thuộc về “người cày có ruộng” như là một cứu cánh của lập trường cách mạng. Có lẽ phải biết và dám “tập trung ruộng đất để đưa nông thôn vào sản xuất hiện đại ở trong đầu” đã, rồi từ đó mới thực thi được trên đồng ruộng. Mà chúng tôi ở huyện, nếu không được cái đầu của tỉnh gật thì chỉ mới đưa ra ý tưởng đã bị “phạt đền 11 mét”rồi, làm sao dám thực thi? Mà cái đầu của tỉnh thì lại phải chờ đợi từ cái đầu của Trung ương có thuận không đã. Và cứ thế, sự chờ đợi kéo dài, và nông thôn cũng mòn mỏi kéo dài ì ạch theo bước chân trâu”.
Khi dẫn ra câu ca dao hài hước kia, người bí thư huyện uỷ trầm ngâm trước con số mà chúng tôi cung cấp: khảo sát của viện Chính sách và chiến lược phát triển nông thôn năm 2006 ở tám xã thuộc đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long cho thấy hầu hết các vùng nông thôn gần như không còn lao động dưới 40 tuổi. Ở tỉnh Thái Bình, khoảng 45% lao động đã chuyển khỏi nông nghiệp, 20 vạn người đi làm ăn xa. Anh đưa ra một loạt những con số về những người lao động còn ở lại làm nông nghiệp để bình luận trong cái cười ướt đẫm nước mắt về hình ảnh “ông lão đi bừa” và “cụ cố đi cày” mà anh đang cố tìm cách tháo gỡ!
Anh buồn rầu nói thêm, “đúng ra, cần thêm một câu ca dao nữ nói về phụ nữ đi cày, đi bừa… vì rằng phụ nữ nông thôn trên 35 tuổi khó có cơ hội tìm việc làm ở đô thị, ở các khu công nghiệp. Vì vậy, họ buộc phải “đảm đang” công việc đồng áng nặng nhọc đó. Cái xu thế “nữ hoá nông nghiệp” này góp phần giảm sút phương thức thâm canh. Năng suất giảm sút sẽ làm cho cái nghèo tăng lên”. Giọng anh trầm hẳn xuống, ánh mắt đăm chiêu.
Những cán bộ cỡ bí thư huyện uỷ như vậy không nhiều song không là quá hiếm trên cả nước ta, từ khắp nông thôn đồng bằng sông Hồng, suốt dọc duyên hải miền Trung, vượt lên vùng núi phía Bắc, quành về Tây Nguyên, cho đến ngút ngàn nông thôn đồng bằng sông Cửu Long nơi chúng tôi từng đến. Những cái đầu biết suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng vào cuộc, bứt lên. Hiện nay, những cái đầu dám nghĩ và dám làm, dám chịu trách nhiệm về việc làm của mình để xây dựng nông thôn mới ấy đang cần được cổ vũ. Để cổ vũ những nhân tố mới có ý nghĩa khai phá ấy, đương nhiên, phải quyết liệt chống trả lại “những cái cũ hư hỏng nhưng đã được tập quán thần thánh hoá”, điều mà Hégel đã từng phân tích rất sâu sắc và F. Engels nhiều lần nhắc lại.
Về chuyện này, xin kể lại một kỷ niệm. Về chuyện bản báo cáo “Khảo sát xã hội học tại Thái Bình” cũng lắm gian truân, nhưng xin chỉ kể một chuyện.
Hôm ấy, đồng chí Phạm Văn Đồng cho gọi tôi lên để trình bày về bản báo cáo ấy. Cố gắng hết sức kiệm lời, vì biết người nghe sẽ hết sức chăm chú song không có nhiều thời gian. “Thưa anh, theo chúng tôi, chẳng có địch phá hoại nào trong chuyện này cả, đây chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”. Đang trong “trớn” trình bày, cứ nghĩ là như vậy cũng đã đủ “thẳng thắn”, vì với đồng chí Phạm Văn Đồng, trong câu chuyện giữa hai thầy trò, chúng tôi trao đổi rất thoải mái không phải kiêng dè bất cứ điều gì, bỗng tôi thấy ông khe khẽ gõ tay trên mặt bàn: “Nào anh bạn, anh nói lại câu vừa rồi đi”.
Tôi dừng lại, liếc vội về phía anh Nguyễn Tiến Năng ngồi ghi chép ở đầu chiếc bàn dài đặt khá xa bàn uống nước mà đồng chí Phạm Văn Đồng và tôi ngồi, anh Năng cười hất đầu ra hiệu “nói đi”. “Vâng thưa anh, theo tôi nghĩ, trong chuyện Thái Bình, chẳng có địch phá hoại nào cả, mà chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”.
Phạm Văn Đồng cười sảng khoái rồi bất thần hỏi tôi: “Này, anh Tương Lai, với tôi mà anh vẫn còn phải sợ à?” Ông thôi không cười nữa và dằn giọng: “Không có mâu thuẫn nội bộ nhân dân nào cả. Phải nói rõ đây là mâu thuẫn giữa một bên là những người cầm quyền hư hỏng, thoái hoá, biến chất và một bên là nhân dân chống lại sự hư hỏng đó. Phải nói như vậy, phân tích như vậy thì mới tìm ra giải pháp đúng được”.
Tôi hiểu ý của ông, hiểu sự xót xa, giằng xé trong tư tưởng của ông khi ông nói lên những điều đó. Bởi vì rồi sau đó không lâu, trong bài viết cuối cùng trên báo Nhân Dân, ông nghiêm khắc cảnh báo: “Nhiều người có chức có quyền trong hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng hư hỏng quá, thoái hoá, biến chất, chạy theo chức quyền, tiền, danh và lợi, những người ấy đang làm cho một bộ phận không nhỏ trong nhân dân ta ngày càng giảm lòng tin vào Đảng, đưa đến tình hình nguy kịch không thể coi thường” .
Cũng về chuyện báo cáo Thái Bình ấy, tôi có dịp được báo cáo với đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi thưa với ông về câu chuyện cảm động và lý thú với đồng chí Phạm Văn Đồng và bổ sung bằng những bức ảnh sống động mà chúng tôi chụp tại Thái Bình dạo ấy. Trong ấy có một bức mà tôi thưa với đại tướng là bức ảnh có ý nghĩa nhất trong đời làm xã hội học của chúng tôi.
Duyên do là, khi được báo cáo là tại xã An Ninh huyện Quỳnh Phụ, “bọn phản động” đã đập tượng Bác Hồ trong đêm đập phá trụ sở uỷ ban nhân dân xã, có đồng chí lãnh đạo đã tỏ ra rất bức xúc. Khi đến hiện trường, chúng tôi thấy một tượng Bác bằng thạch cao bị vỡ đặt nằm dưới gầm bàn làm việc tại trụ sở uỷ ban xã, nhưng ngay sát mặt bàn, lại có cái bục cao, trên đó vẫn có một tượng Bác được đặt nghiêm chỉnh. Hỏi vị chủ tịch uỷ ban xã thì được trả lời là: “Chỉ tượng Bác đặt trên mặt bàn bị đập vỡ thôi, còn tượng đặt trên bệ cao thì “chúng” chưa kịp đập”. Thế một phòng họp lại có đến hai tượng Bác Hồ cơ à, câu hỏi ấy được trả lời là “Vâng, để cho nó thêm trang trọng ạ!” Chúng tôi chụp ảnh cả bức tượng vỡ nằm dưới gầm bàn và toàn cảnh phòng họp đang có bức tượng Bác đặt trên bệ trang trọng.
Đại tướng mỉm cười độ lượng “họ vụng về quá, dàn cảnh thế này thì ai mà chẳng biết”. Tôi thưa với ông: “Thưa anh, đúng vậy. Khi chúng tôi tìm hỏi dân thì người ta cho biết, bức tượng thạch cao bị vỡ từ lâu để trong kho. Nay muốn “dựng hiện trường giả”, họ đưa bức tượng vỡ ấy từ trong kho ra đặt vào đó”.
Đại tướng hiền từ nhắc nhở: “Đề tài nông dân vẫn là một chủ đề nóng bỏng, các anh cần cố gắng tập trung thời gian nghiên cứu”. “Vâng, thưa anh, nó vẫn nóng bỏng như từ khi Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình đặt ra”. Ánh mắt của con người huyền thoại ấy như vui lên: “À, thế ra cậu cũng đã đọc cuốn sách ấy à. Hiện có cuốn ấy ở nhà không, gửi cho mình xem lại. Trong tủ sách của tôi không có cuốn ấy”. Tôi hứa chắc với ông thế nào tôi cũng tìm được cuốn sách ấy để gửi tặng ông. Nhưng quả thật gay go để tìm được nguyên bản, đành phải đến Viện Thông tin khoa học xã hội năn nỉ với viện trưởng vốn là chỗ thân tình, nhưng anh cũng chỉ cho phép chụp lại để gửi tặng Đại tướng.
 |
Những chuyện đặt ra trong Vấn đề dân cày như “hàng năm nhà thợ cày phải ăn đói đến bảy, tám tháng, bần nông năm sáu tháng, một số trung nông thiếu ba bốn tháng” có thể đã cơ bản lùi về dĩ vãng, song những khát vọng nông dân thì vẫn còn nguyên vẹn. Đại tướng nhắc cần đặc biệt chú trọng đến đời sống tinh thần của nông dân, chú ý nâng cao văn hoá nông thôn, gìn giữ và phát huy tinh hoa của nền văn hoá làng.
Lời nhắc nhở của Đại tướng khiến tôi nhớ đến một kỷ niệm ấm lòng. Trong chuyến đi Hà Giang dạo ấy, chúng tôi bất chợt gặp các cháu nhỏ ngồi sưởi bên ngọn lửa được nhóm lên cuối chân đèo khi xe tôi vượt qua cổng trời từ Mèo Vạc về Đồng Văn vào buổi chiều mù sương. Dựng xe hỏi chuyện, biết các cháu là học trò lớp ba, lớp bốn, đi học vào buổi sáng để buổi chiều đi chăn bò, các cháu ngồi sưởi, đợi cho bò gặm nốt ít cỏ trước khi lùa bò về. “Nó học giỏi nhất ở đây đấy, mình nó lớp bốn thôi”, chỉ vào một bé gái trùm chiếc khăn xanh đã bạc màu, một bé trai đội chiếc mũ nồi đen có mấy lỗ thủng vừa cười vừa nói.
“Thế chừng nào mới lùa bò về, nhà cháu ở tận đâu?” tôi hỏi cháu. “Đấy, kia kìa”, bé gái trả lời. Theo hướng tay và ánh mắt của cháu, tôi nhìn xuống những mái nhà lờ mờ trong sương chiều dưới thung lũng thấp thoáng ánh đèn khi mờ khi tỏ. Con sông Nho Quế thơ mộng chỉ còn là một vệt uốn lượn thấp thoáng mà ráng chiều chẳng rọi tới được. Ngọn lửa sưởi của các cháu nhóm giữa đường đèo sao mà xao xuyến. Không nói nổi lời từ biệt các cháu, tôi rút vội chiếc bút máy cài trên túi áo rồi đặt nhẹ vào tay bé gái. “Không lấy đâu, không lấy đâu”, bước vội về phía tiếng còi xe đang giục vì đoạn đường về huyện Đồng Văn còn xa, tôi chỉ kịp nghe tiếng vọng của bé gái. Xe chạy, ngoái nhìn lại, các cháu đã đứng chụm lại cả giữa đường nhìn theo trong mù sương của núi rừng Hà Giang.
Hình ảnh các cháu bé ngồi sưởi bên chân đèo và ánh mắt của bé gái theo đuổi tôi suốt quãng đường còn lại của một người làm khoa học mà chủ đề nông dân luôn là một ám ảnh dai dẳng và giằng xé. Ngọn lửa ấy, ánh mắt ấy chính là ngọn lửa trí tuệ giải đáp cho những khát vọng nông dân bao đời.
Tương Lai
ảnh: Phan Quang, Na Sơn