sgtt.vn, 17.05.2012  
img Đọc báo theo ngày:
Ngày 24.12.2011, 07:30 (GMT+7)

Đi tìm người thuỷ diện trên phá Tam Giang

Phá Tam Giang ở bắc miền Trung là vùng đầm phá lớn nhất Đông Nam Á, không chỉ phong phú về hệ thuỷ sinh mà còn mang nhiều sắc thái đặc trưng, đa dạng của cư dân sống bám theo đầm phá được gọi là người thuỷ diện, dân vạn đò... Câu chuyện đời sống người thuỷ diện trên phá Tam Giang với những lý giải về nguồn gốc, tìm hiểu cận cảnh đời sống, nét văn hoá trong tín ngưỡng dân gian… là những điều mà chúng tôi muốn hướng tới.

Kỳ 1: Người thuỷ diện trên phá Tam Giang

SGTT.VN - Từ khi hình thành tổng Võng Nhi (Võng Nhi là con nhà chài lưới) dưới thời Tự Đức, những cư dân thuỷ diện trên phá Tam Giang mới được xã hội thừa nhận, được đăng ký hộ tịch, nộp tô thuế, và trở thành một bộ phận cư dân của kinh thành Huế xưa. Người thuỷ diện, họ từ đâu mà đến?

Nò sáo, một phong cách đánh bắt truyền thống trên thuỷ diện ở phá Tam Giang.

Dưới thời chúa Nguyễn, phá Tam Giang từng là hiểm địa, vắng người lui tới, người xưa từng viết rằng: sợ Truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang. Do địa thế nối với sông Hương nên mỗi khi có việc thượng kinh, ghe thuyền thường từ biển vào vùng đầm phá, theo sông Hương lên kinh thành. Cửa phá có dòng chảy xiết, luồng lạch biến đổi tạo thành sóng lớn gây đắm chìm tàu thuyền, là nỗi khiếp sợ kinh hoàng cho những ai muốn đi vào vùng đầm phá. Sau này, quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng (1691 – 1725) – dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu – khai thông cửa phá, trị được sóng dữ mới đem lại bình an cho vùng đầm phá. Kể từ đó, phá Tam Giang trở thành vùng trù phú, là nguồn sống của những ngư dân, được gọi là người thuỷ diện.

Người thuỷ diện

Có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau khi lý giải về nguồn gốc của cư dân sống trên nước vùng đầm phá Tam Giang. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông – phân viện trưởng phân viện Văn hoá nghệ thuật Việt Nam tại Huế, nguồn gốc người thuỷ diện trên phá Tam Giang có thể khái lược ngắn gọn:

Thứ nhất là, cộng đồng ngư dân bản địa tiền trú ở khu vực này, kết hợp với những ngư dân đến từ phía Bắc, trong quá trình Nam tiến cũng tiếp tục nghề ngư của mình, đến định cư và tạo nên một cộng đồng những cư dân ngư nghiệp sống trên đầm phá.

Thứ hai là, nông dân bị thuỷ diện hoá. Trong quá trình Nam tiến, do đi sau bị chậm chân nên hầu hết các vùng nông nghiệp trù phú dọc các con sông đã có người “cắm dùi”, nông dân không còn đất, họ phải dùng phương tiện đò ghe làm không gian sống (do sống trên mặt nước không có các làng bộ quản lý), có thể lên bờ làm thuê, tập tành làm ngư nghiệp và hoà nhập với cộng đồng sống trên nước.

Người thuỷ diện là người “theo đuôi con cá” – con cá đi đâu thì dong thuyền theo đó, phân bố theo dạng tuỳ tiện, đôi lúc kết hợp bởi mối quan hệ huyết tộc, nghề nghiệp, có khi kết hợp bởi quan hệ giang hồ. Trong xã hội phong kiến, với yếu tố trọng nông, dĩ nông vi bản (lấy nghề nông làm gốc), thì các nghề khác đều bị xem nhẹ, trong đó nghề ngư nghiệp còn được xem là nghề mạt hạng, sự nghiệt ngã của quan niệm ấy khiến người thuỷ diện thường bị xã hội coi khinh, miệt thị, bị cho là ăn bám, ký gửi, họ không được đăng ký hộ tịch, thậm chí khi chết không có đất chôn.

Hình ảnh quen thuộc của những đứa con tổng Võng Nhi.

Tổng Võng Nhi

Đến thời Tự Đức, có thượng thư bộ Công là tiến sĩ Hoàng Hữu Thường, người xã Quảng Tế, huyện Hương Thuỷ, do xuất thân nguồn gốc là cư dân thuỷ diện, tầng lớp bị coi khinh nên ông thương xót cư dân đồng cảnh ngộ và cảm thấy xã hội có một sự thiếu công bằng giữa nông và ngư. Ông xin triều đình biên chế toàn bộ người thuỷ diện ở vùng kinh sư thành một tổng, như một tổ chức đơn vị hành chính trên bộ, gọi là tổng Võng Nhi.

Căn cứ trên việc tụ cư của người thuỷ diện khắp các lưu vực sông trên phá Tam Giang gồm sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, toàn bộ các vạn ở ba sông và trên đầm phá được biên chế thành 13 làng. Những vạn sống kế cận nhau xây dựng tổ chức liên vạn gọi là làng trên mặt nước. Từ đó, làng thuỷ diện ra đời, các làng nằm trong biên chế tổng Võng Nhi, cư dân sông nước được quyền đăng ký hộ tịch, triều đình bắt đầu thu thuế. Theo nghiên cứu của tiến sĩ Trần Đình Hằng về đề tài Làng xã truyền thống với việc quản lý mặt nước vùng đầm phá Tam Giang, Sông Hương: “Đến cuối thời Nguyễn, tổng Võng Nhi đã có 16 thôn ấp giáp mạn và được ghi nhận là đều ở trên mặt nước, không có đất đai”.

Làng trên nước của người thuỷ diện ở phá Tam Giang.

“Thuỷ diện thế vi điền”

Trong các làng thuỷ diện trên phá Tam Giang, có một ngôi làng đặc biệt gọi là Thuỷ Tú, được hình thành dưới thời Gia Long. Cư dân của làng Thuỷ Tú xuất thân không theo nghề ngư, người làng không có nghề nghiệp cụ thể. Đặc ân “Thuỷ diện thế vi điền” (lấy mặt nước thế ruộng) của làng Thuỷ Tú nhờ vị khai canh của làng là tướng Lê Đại Lang (huý danh Lê Búa), xưa có công phò Gia Long trên đường bôn tẩu, khi Gia Long lên ngôi đã ban ân thưởng, thuận theo ước muốn của Lê Búa là xin một làng gần kinh thành khai canh, nhưng các làng quanh kinh sư đều đã có chủ quyền, cuối cùng triều đình tìm được một rẻo đất đang trong thời kỳ vỡ hoang ở ngã ba Sình, cho Lê Búa về khai canh và Thuỷ Tú ra đời, con dân làng Thuỷ Tú được giao quyền thu thuế mặt nước trên phá Tam Giang như một loại ruộng đặc biệt.

Bản Châu Bộ Gia Long ghi rõ: làng được ban cấp cho quyền được lấy mặt nước thế ruộng, ranh giới như sau: phía trên từ làng Bình Trị, phía dưới đến xứ Can Lô, phía đông gần biển, phía tây gần núi, phía nam giáp ruộng làng Thanh Nam, phía bắc giáp xứ đất Cồn Nôm… Từ khoanh vùng đó, hàng năm làng cho thuê đóng các sở sáo, nghề hớn với tổng cộng 33 sở, thu nạp quốc thuế hàng năm 449 quan. Số tiền này được hội đồng quân cấp lương điền khẩu phần cho toàn dân và chi tiêu việc công của làng. Đời sống kinh tế của làng đều nhờ mặt nước mà sinh sống, vì ngoài mặt nước, làng chẳng có ruộng đất gì cả, làng hưởng thụ mặt nước như nguyên tắc ruộng đất có trưng khẩn của các làng khác”.

Đội tuần đinh của làng tổ chức theo phiên, thu thuế mỗi năm hai kỳ, lợi tức sau khi trừ đi các khoản hành chính thì chia đều theo đầu suất đinh. Do có nguồn thu lớn từ việc cho thuê ruộng mặt nước (thuỷ điền), đất canh tác không có, nên cư dân của làng chẳng làm nghề gì khác mà chỉ đánh bạc quanh năm, nên làng Thuỷ Tú ngày xưa còn có tên gọi là làng đánh bạc.

bài và ảnh: Lam Phong

Kỳ tới: Hành trình lênh đênh phá Tam Giang để tìm hiểu cận cảnh cuộc sống thường ngày của những người thuỷ diện cuối cùng trên phá Tam Giang hôm nay.

  
  
Đánh giá bài viết:  

Bài liên quan

ý kiến bạn đọc
Nội dung (Xin bạn đọc vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)  
Kiểu gõ:
Họ và tên  
Địa chỉ email    
Nhập mã bảo vệ:  
Tài liệu đính kèm: (.doc, .jpg, .gif, .zip, .rar, .pdf)
 Thông báo cho tôi qua email khi có phản hồi mới
09:54 ngày 03.03.2011
LTS: Không còn bị bó buộc với tề gia nội trợ, sự thay đổi mạnh mẽ của xã hội đã tạo bệ phóng cho các cô gái ngày nay lên rừng xuống biển, tự do làm những gì mình thích. Kể từ số này, Sài Gòn Tiếp Thị Nguyệt san giới thiệu những bài viết của chính họ – những nhân vật chính với rất nhiều thú vui đặc biệt, thể hiện tính cách và lối sống hiện đại.